So sánh sản phẩm
chọn tối đa 4 sản phẩm

Tin tức


  • Hiệu suất sử dụng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu công nghiệp đạt thấp

    Hiệu suất sử dụng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu công nghiệp đạt thấp
    Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác bảo vệ môi trường, cụ thể là xử lý nước thải, tại các khu công nghiệp đã cơ bản đầy đủ; công tác phát triển hạ tầng hệ thống xử lý nước thải, chất thải của các khu, cụm công nghiệp, có kết nối trực tuyến với cơ quan quản lý môi trường cơ bản đạt yêu cầu. Tuy nhiên, hiệu suất sử dụng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu công nghiệp mới chỉ đạt 48%.
    Theo số liệu thống kê của mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT), hiện nay cả nước có 274 KCN đang hoạt động, trong đó có 242 KCN đã hoàn thành việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, đạt tỷ lệ 88,3%.
    Tổng công suất của các nhà máy xử lý nước thải đang hoạt động đạt hơn 951.330 m3/ngày - đêm, với công suất trung bình mỗi nhà máy đang hoạt động đạt 4.000 m3/ngày - đêm, trong đó, công suất nhỏ nhất là 200 m3/ngày - đêm (tại KCN Cơ khí ô tô - Thành phố Hồ Chí Minh) và lớn nhất là 50.000 m3/ngày đêm (tại KCN Yên Bình, tỉnh Thái Nguyên).

    Bộ TN-MT sẽ rà soát lại các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, xác định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước và quản trị môi trường của chủ đầu tư, doanh nghiệp
    Cũng theo số liệu của Bộ TN-MT, tổng lượng nước thải thực tế của các KCN trên cả nước là 635.000 m3/ngày - đêm còn lượng nước thải được thu gom, xử lý tại các hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi xả ra môi trường là 450.000 m3/ngày đêm, chiếm 71% lượng nước thải phát sinh. Còn lượng nước thải do các cơ sở tách đấu nối, tự xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trước khi xả ra môi trường hoặc chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý là 185.000 m3/ngày - đêm, chiếm 29%.
    Trong tổng số 274 KCN đang hoạt động thì các KCN tại khu vực Đông Nam Bộ có tỷ lệ phát sinh nước thải cao nhất nước (chiếm 50%), song do thực hiện nghiêm các quy định về đầu tư xây dựng, vận hành hệ thống xử lý nên tỷ lệ nước thải được thu gom, xử lý tại hệ thống xử lý nước thải tập trung trong các KCN ở khu vực này đạt cao nhất cả nước (chiếm khoảng 90%).
    Trên cơ sở tính toán số liệu tổng lượng nước thải phát sinh hàng ngày và công suất xử lý của hệ thống xử lý nước thải tập trung thì hiệu suất sử dụng của các hệ thống xử lý nước thải tập trung trên toàn quốc là 48%.
    Về công tác kết nối trực tuyến với cơ quan quản lý môi trường của các hệ thống xử lý nước thải tập trung, Bộ TN-MT cho biết, trong số 242 KCN đã hoàn thành xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, có 191 KCN đã lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động, liên tục, chiếm 78,9%, 51 KCN còn lại đang trong lộ trình lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động, chiếm 11,1%.
    Các địa phương, như: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Bắc Ninh là những địa phương đi đầu với 100% KCN có lắp đặt thiết bị quan trắc tự động và truyền dữ liệu về Sở TN-MT kiểm soát. Đặc biệt, TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai đã chủ động lắp đặt thiết bị quan trắc tự động đồng bộ do Sở TN-MT quản lý tại các nguồn thải có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao trong đó có KCN để kiểm soát.
    Dù về cơ bản các KCN trong cả nước đã đầu tư xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trong, song theo đánh giá của Bộ TN-MT, việc thực hiện quy hoạch xây dựng của các KCN, đặc biệt là xây dựng hạ tầng KCN chưa được các địa phương nghiêm túc thực hiện.
    Hiện vẫn còn tồn tại 32 KCN dù đã đưa vào hoạt động nhưng chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Hơn nữa, số lượng các KCN đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, đã đi vào hoạt động nhưng chưa hoàn thiện thủ tục xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường còn cao.
    Vần còn tình trạng một số địa phương chỉ tập trung thu hút đầu tư, song thiếu đôn đốc, kiểm tra, tăng cường chỉ đạo các chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN đẩy nhanh tiến độ xây dựng và đưa vào vận hành kịp thời hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN. Chưa giám sát chặt chẽ việc xả nước thải của các KCN gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, đặc biệt là nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt phía ngoài hàng rào KCN.
    Cá biệt, có địa phương phát triển “nóng” các KCN mà chưa tính đến nhu cầu thị trường dẫn đến hậu quả là các KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung và chưa làm thủ tục xác nhận hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường chủ yếu vì thu hút được rất ít các dự án đầu tư hoạt động trong KCN.
    Để chấn chỉnh tình trạng này, trong thời gian tới, Bộ TN-MT sẽ rà soát lại các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó tập trung vào các chính sách lớn, như: phân luồng, phân nhóm các dự án đầu tư, cơ sở sản xuất theo mức độ tác động đến môi trường để có biện pháp quản lý môi trường phù hợp.
    Bộ cũng sẽ thực hiện phân vùng môi trường và có cơ chế sàng lọc các dự án đầu tư dựa trên các tiêu chí môi trường, xây dựng cơ chế quản lý môi trường theo các giai đoạn của vòng đời dự án. Đồng thời xác định rõ trách nhiệm quản lý về môi trường của nhà nước và quản trị môi trường của chủ đầu tư, doanh nghiệp.
    Bộ TN-MT cũng sẽ đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn về môi trường theo hướng hội nhập và đảm bảo chất lượng môi trường ngày càng cao, xây dựng các quy định về quản lý chất thải rắn, nước thải theo hướng phù hợp với tình hình phát sinh và bối cảnh kinh tế - xã hội và thực hiện điều chỉnh đối tượng ưu đãi, hỗ trợ phù hợp hơn theo hướng bổ sung thêm đối tượng được hưởng các ưu đãi khi xây dựng hệ thống xử lý nước thải công nghiệp không tập trung tại các KCN.
     
  • Năm 2020: Quyết liệt kiểm soát ô nhiễm môi trường

    Năm 2020: Quyết liệt kiểm soát ô nhiễm môi trường
    Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2019 và phương hướng nhiệm vụ năm 2020, Tổng Cục môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho rằng, nhiễm môi trường vẫn còn diễn biến phức tạp, nhất là ô nhiễm không khí. Thực tế này đòi hỏi năm 2020 cần có những hành động quyết liệt, kiểm soát chặt chẽ nguồn xả thải, xử lý nghiêm các vi phạm.
    Còn tư tưởng ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, xem nhẹ yêu cầu bảo vệ môi trường

    Theo thông tin từ Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), trong năm 2019, ô nhiễm môi trường diễn biến phức tạp. Ô nhiễm không khí đang ngày trở nên nghiêm trọng, đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh có xu hướng "xấu" hơn với sự gia tăng các nguồn thải gây ô nhiễm.Đáng chú ý, chỉ số chất lượng không khí (AQI) có thời điểm vượt ngưỡng an toàn, nguy hại tới sức khỏe người dân, nhất là bụi mịn PM2.5.
    Theo báo cáo của Tổng cục Môi trường, lượng chất thải được thải ra môi trường đang ngày càng tăng. Trong khi đó, công tác quản lý rác thải sinh hoạt hiện nay còn nhiều hạn chế, phần lớn được xử lý theo hình thức chôn lấp. Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được giảm thiểu hoặc tái chế tại các cơ sở xử lý chưa cao.
    Cùng với chất thải rắn và ô nhiễm không khí, nước thải cũng là điều đáng lo. Báo cáo của Tổng cục Môi trường cho thấy nước thải đô thị phát sinh ngày càng lớn, hầu hết chưa qua xử lý, mà xả ra môi trường gây ô nhiễm nguồn nước mặt trong các đô thị, khu dân cư; hạ tầng thu gom, xử lý chưa đáp ứng yêu cầu.
    Đáng chú ý, vẫn còn nhiều cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa được xử lý triệt để, nhiều cơ sở công nghiệp nằm xen lẫn trong khu dân cư chậm được di dời. Chất lượng và tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng tiếp tục suy giảm.
    Người dân "kín từ đầu đến chân" khi ra đường trước tình trạng ô nhiễm không khí ngày càng nghiêm trọng
    Theo Tổng cục Môi trường, nguyên nhân dẫn đến những tồn tại nêu trên chưa được xử lý triệt để là do vẫn còn tư tưởng ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư bằn mọi giá, xem nhẹ yêu cầu bảo vệ môi trường.
    Quan điểm không đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế chưa được thực hiện triệt để. Ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường của người dân và doanh nghiệp còn nhiều hạn chế; việc thực thi công tác bảo vệ môi trường hiệu quả chưa cao.
    Bên cạnh đó, hệ thống chính sách pháp luật liên quan đến công tác bảo vệ môi trường còn chồng chéo, bất cập, chưa theo kịp những diễn biến nhanh của các vấn đề môi trường và yêu cầu hội nhập quốc tế. Trong khi đó, việc tổ chức thực hiện còn yếu kém, nhất là cấp địa phương, cơ sở, kể cả cấp độ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và quản trị môi trường ở các khu kinh tế, khu công nghiệp, làng nghề. Các dự án thuộc loại hình sản xuất có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường vẫn còn xu hướng đầu tư vào Việt Nam. Năng lực phòng ngừa, ứng phó với các sự cố môi trường của các doanh nghiệp ở một số địa phương còn nhiều bất cập.
    Kiên quyết xử lý mạnh các hành vi gây ô nhiễm môi trường
    Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Võ Tuấn Nhân nhấn mạnh, năm 2020,Tổng cục Môi trường sẽ có những hành động quyết liệt, những giải pháp mang tính đột phá để đạt được các mục tiêu đề ra. Đó là kết hợp công tác bảo vệ môi trường hài hòa với phát triển kinh tế - xã hội; kiểm soát chặt chẽ nguồn xả thải; giảm thiểu rác thải nhựa; thu gom, tái chế chất thải rắn; xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường; khuyến khích, thúc đẩy ngành công nghiệp môi trường; từng bước xây dựng nền kinh tế tuần hoàn... Hướng tới việc kiểm soát chặt chẽ về môi trường đối với các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, rà soát kiên quyết yêu cầu chủ đầu tư các khu công nghiệp, cụm công nghiệp xây dựng, vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung; yêu cầu các đối tượng có quy mô xả thải lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải, khí thải tự động liên tục, truyền số liệu trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường theo quy định.
    "Gánh nặng" về ô nhiễm môi trường sẽ tiếp tục bị đẩy sang năm 2010
    Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường; rà soát, điều chỉnh, xây dựng mới các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, kiên quyết xử lý nghiêm đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường; tăng cường cơ chế giám sát về bảo vệ môi trường đối với các dự án, cơ sở sản xuất có nguy cơ gây sự cố, ô nhiễm môi trường cao, bảo đảm không để xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng, các dự án vận hành an toàn.
    "Đặc biệt, Tổng cục Môi trường sẽ đẩy mạnh các giải pháp bảo vệ, cải thiện chất lượng môi trường không khí tại các đô thị lớn, nhất là thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; trong đó tập trung rà soát, đánh giá tình hình, kết quả thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường không khí và kế hoạch hành động quốc gia quản lý chất lượng không khí đến năm 2020, tầm nhìn đến 2025. Tăng cường quan trắc, giám sát chặt chẽ diễn biến chất lượng không khí trong các đô thị lớn, kết nối số liệu quan trắc Trung ương và địa phương để cung cấp thông tin kịp thời cho người dân và có các giải pháp ứng phó phù hợp, hiệu quả" Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nhấn mạnh.
     
  • Quản lý, kiểm soát chặt chẽ các loại hình nước thải công nghiệp

    Quản lý, kiểm soát chặt chẽ các loại hình nước thải công nghiệp 
    Thời gian gần đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) đã tập trung nguồn lực quản lý, kiểm soát chặt chẽ loại hình nước thải công nghiệp, đặc biệt là nước thải phát sinh từ các Khu công nghiệp (KCN).
    Cần kiểm soát chặt chẽ các chất thải trong khu, cụm công nghiệp. (Ảnh minh họa)
    Hiện nay, cả nước có 251 KCN đã đi vào hoạt động có phát sinh chất thải (không tăng so với năm 2017). Hoạt động kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các KCN đã có chuyển biến tích cực.
    Trên phạm vi cả nước, đã có 221/251 KCN đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, đạt khoảng 88% (tăng 8% so với năm 2017), trong đó các địa phương có số lượng KCN lớn như TP Hồ Chí Minh, TP Hà Nội, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Long An, Quảng Ninh, Bắc Ninh... tỷ lệ này đều đạt 100%. Đã có 121/251 KCN lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động, liên tục đạt tỷ lệ trên 42%.
    Nhìn chung, nhiều địa phương đã chú trọng lựa chọn, thu hút các dự án công nghệ cao, dự án có tỷ lệ đầu tư về môi trường lớn, một số địa phương đã bước đầu thực hiện việc phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường trong quá trình thu hút đầu tư thông qua việc lựa chọn những ngành nghề, dự án đầu tư có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch.
    Đối với các cơ sở sản xuất, nhà máy riêng lẻ, hầu hết đã và đang được kiểm soát chặt chẽ việc xả nước thải vào nguồn nước thông qua việc quản lý, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường và cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước.
    Tuy nhiên, một thực tế thấy rằng, hiện nay còn chưa kiểm soát được đầy đủ, triệt để các hoạt động gây phát sinh ô nhiễm các dòng sông từ nước thải sinh hoạt, nước thải từ các làng nghề và ô nhiễm từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản.
     
  • Quản lý chặt môi trường công nghiệp

    Quản lý chặt môi trường công nghiệp
    Thời gian qua, việc xử lý môi trường trong các cụm công nghiệp (CCN), khu công nghiệp (KCN) được UBND tỉnh Khánh Hòa đặc biệt quan tâm. Tất cả các dự án hạ tầng CN đều phải có
    hệ thống xử lý nước thải mới được bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư thứ cấp.
    Bắt buộc phải có trạm xử lý nước thải   
    Theo lãnh đạo Sở Công Thương, đến nay, toàn tỉnh đã thành lập và quyết định chủ trương đầu tư cho 7 CCN và 2 KCN. Ngoài KCN Ninh Thủy (thị xã Ninh Hòa), CCN Sông Cầu (huyện Khánh Vĩnh) và CCN Diên Thọ (huyện Diên Khánh) đang triển khai, các CCN, KCN còn lại đều được đầu tư hạ tầng kỹ thuật tương đối hoàn chỉnh. Tại các dự án này, vấn đề môi trường được lãnh đạo tỉnh đặc biệt quan tâm. Trong quy hoạch, cơ quan chức năng đã chủ động bố trí các nhà máy, xí nghiệp theo hướng ít ảnh hưởng đến môi trường của khu vực xung quanh. Các CCN, KCN mới hình thành phải ưu tiên cho những doanh nghiệp (DN) sản xuất ít gây ô nhiễm vào đầu tư. CN sạch là định hướng phát triển lâu dài trên địa bàn tỉnh.
    Lãnh đạo tỉnh kiểm tra hệ thống xử lý nước thải tại Cụm Công nghiệp Trảng É.
    Hiện nay, tất cả các dự án CN mới, xử lý nước thải luôn là hạng mục bắt buộc. Kể cả khi hạ tầng cơ sở của KCN, CCN đã hoàn thiện, nhưng nếu chưa có hệ thống xử lý nước thải thì vẫn không được phép bàn giao mặt bằng cho các nhà đầu tư thứ cấp. Tại 2 CCN Sông Cầu và Trảng É, dù phải một thời gian dài nữa mới có DN  đi vào hoạt động nhưng hiện nay trạm xử lý nước thải đã hoàn tất. Ông Phan Hoài Phương - Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Đầu tư và Kinh doanh bất động sản Khatoco (chủ đầu tư CCN Trảng É) cho biết: “Khả năng nhanh nhất cũng hơn 1 năm nữa, CCN mới có DN chính thức hoạt động. Vậy nhưng, theo quy định, chủ đầu tư vẫn phải hoàn thành nhà máy xử lý nước thải trước khi bàn giao cho nhà đầu tư thứ cấp. Việc xây dựng như vậy sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và khả năng hệ thống xử lý bị hư hỏng vì phải chờ vận hành là rất cao. Song, để đảm bảo cho môi trường, chúng tôi vẫn nghiêm túc thực hiện”.
    Giám sát chặt chẽ
    Thời gian qua, các ngành chức năng luôn chủ động kiểm tra, giám sát việc xử lý cũng như xả thải tại các KCN, CCN; tránh tình trạng xảy ra ô nhiễm, kịp thời chấn chỉnh nếu có trường hợp DN vi phạm. Hiện nay, toàn tỉnh có 2 trạm xử lý nước thải đang vận hành ở CCN Diên Phú và KCN Suối Dầu đều được giám sát rất chặt chẽ. Trạm xử lý nước thải tập trung của CCN Diên Phú có công suất thiết kế 1.500m3/ngày đêm. Mỗi ngày, trạm tiếp nhận xử lý lượng nước khoảng 200 - 250m3. Để giám sát quá trình xử lý nước thải, bộ phận quản lý CCN đã vận hành thiết bị đo lường theo những quy chuẩn nghiêm ngặt. Bên cạnh đó, Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại tỉnh còn hợp đồng với Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng lấy mẫu nước thải 3 lần/năm để kiểm tra, phân tích và báo cáo cơ quan chức năng về công tác bảo vệ môi trường của CCN đối với nước thải sản xuất sau xử lý theo quy định. 
    Ở KCN Suối Dầu, công tác xả thải cũng như xử lý nước thải được đặc biệt quan tâm. Ông Trần Đình Tân - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần KCN Suối Dầu cho biết, sau khi KCN đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải, vấn đề môi trường được kiểm soát rất tốt. Thông qua các thông số kỹ thuật có độ chính xác cao, các cán bộ điều hành hệ thống sẽ xử lý những tình huống ô nhiễm môi trường kịp thời. Đồng thời, qua hệ thống quan trắc, việc giám sát môi trường đối với các công ty cũng trở nên dễ dàng; những vi phạm trong lĩnh vực môi trường nếu có sẽ được phát hiện nhanh chóng. Hiện nay, tất cả các DN trong KCN đều đã đấu nối nước thải vào hệ thống xử lý chung. Công suất của hệ thống xử lý nước thải KCN 2.500m3/ngày đêm.
    Ngoài ra, việc lắp đặt hệ thống quan trắc tự động cũng được đẩy mạnh. Theo báo cáo của Chi cục Bảo vệ môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, trên địa bàn tỉnh có 8 đơn vị thuộc diện phải tiến hành lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động gồm: KCN Suối Dầu, KCN Ninh Thủy, CCN Diên Phú, Công ty Cổ phần Dệt may Nha Trang, Nhà máy đường Khánh Hòa, Nhà máy đường Ninh Hòa, Nhà máy xử lý nước thải Nha Trang, Nhà máy bia Sài Gòn - Khánh Hòa. Đến thời điểm này, các đơn vị đã hoàn thành việc lắp đặt hệ thống quan trắc. Sau khi triển khai lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, Sở Tài nguyên - Môi trường không cần thành lập các đoàn kiểm tra theo định kỳ nhưng vẫn giám sát liên tục vấn đề môi trường ở các DN. 
    Ông Bùi Minh Sơn - Phó Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường, Sở Tài nguyên - Môi trường cho biết: “Vấn đề môi trường tại các KCN, CCN được lãnh đạo tỉnh, ngành và các địa phương rất quan tâm. Các DN cũng ngày càng có ý thức và trách nhiệm hơn trong vấn đề này. Để nâng cao hiệu quả quản lý lĩnh vực môi trường, Chi cục Bảo vệ môi trường thường xuyên tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh các hoạt động xả thải và xử lý nghiêm các đơn vị nếu phát hiện vi phạm. Bên cạnh đó, tập trung kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm, tăng cường quản lý rác thải CN, nguy hại; tham mưu các giải pháp phù hợp để cải thiện môi trường trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư, góp phần vào sự phát triển chung của tỉnh”.
     
  • Thực trạng và giải pháp ô nhiễm nguồn nước tại Việt Nam

    Thực trạng và giải pháp ô nhiễm nguồn nước tại Việt Nam
    Hiện nay, môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn.
    Thực trạng
    Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây 
    ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải. Với tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hoá khá nhanh cùng sự gia tăng dân số là nguyên nhân chính gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước.
    Liên tiếp trong thời gian qua, trên địa bàn cả nước, hiện tượng ô nhiễm môi trường nước đã làm cho hiện tượng cá chết bất thường hàng loạt. Mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại.
    Có lẽ, chúng ta còn nhớ, năm 2019, không ít người dân Hà Nội vẫn còn chưa hết cảm giác lo lắng. Nhất là sau sự cố nguồn nước cấp từ hệ thống Sông Đà bị nhiễm dầu hay còn gọi là nhiễm styren vượt ngưỡng mức cho phép 1,3 – 3,65 lần, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Vụ việc dấy lên thực trạng ô nhiễm nguồn nước tại Hà Nội vốn đã từ lâu chứ không phải là chuyện mới gần đây.
    Trước đó, vào năm 2008 vụ thảm họa xả thải trên dòng sông Thị Vải (sông Đồng Nai), do nhà máy Vedan làm, khiến tôm cá chết hết. Thực sự đây là nỗi niềm lo lắng, trăn trở không chỉ của người dân tại đấy mà còn là vấn đề môi trường chung của con người. Đặc biệt là khi nguồn nước đó lại phục vụ nhu cầu cuộc sống của con người dân Việt Nam. Ngoài sông thị Vải ra, còn không ít các con sông khác cũng đang phải chịu chung thảm cảnh đó.
    Theo Unicef cho biết, tình trạng ô nhiễm nguồn nước ở Việt Nam đang đứng TOP 5, chỉ sau Trung Quốc, Philippines, Indonesia,Thái Lan có lượng rác thải đổ ra sông, ra biển nhiều nhất thế giới hiện nay. Theo như Trung tâm Tư vấn Phát triển bền vững Đà Nẵng cho biết, có khoảng 19 ngàn tấn rác thải nhựa trên ngày, cho thấy môi trường nước đang phải gồng mình để chịu đựng sự ô nhiễm nghiêm trọng.
    Ngoài ra, theo báo cáo mới đây nhất của Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường có tới 17 triệu người dân Việt chưa tiếp cận được với nước sạch. Họ phải chung sống với nước giếng khoan, nước mưa, nước máy lọc không an toàn với sức khỏe. Đặc biệt, con số này chưa dừng lại, mỗi ngày nó đều tăng lên và đang ở mức báo động đáng lo ngại về thực trạng 
    ô nhiễm nước tại Việt Nam.
    Ô nhiễm nguồn nước xuất phát từ việc các ao, hồ, sông tiếp nhận nhiều loại nguồn thải, môi trường nước mặt đang ở tình trạng ô nhiễm tại nhiều nơi. Tuy nhiên, nguồn thải chính tác động đến môi trường nước mặt ở nước ta là nước thải nông nghiệp, công nghiệp và nước thải sinh hoạt. Mức độ gia tăng các nguồn nước thải hiện nay ngày càng lớn với quy mô rộng ở hầu hết các vùng miền trong cả nước.
    Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều ngành công nghiệp được mở rộng quy mô sản xuất cũng như phạm vi phân bố. Cùng với đó là sự gia tăng lượng nước thải lớn, trong khi đó, mức đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải chưa đáp ứng yêu cầu.

    Hậu quả
    Khi chung sống với nguồn nước ô nhiễm, con người dễ bị mắc các bệnh liên quan đến vấn đề về da, tiêu hóa, tiêu chảy và nguy cơ mắc bệnh ung thư là khá cao.
    Đánh giá chung của các chuyên gia y tế, tại một số địa phương, những ca bị mắc ca mắc bệnh ung thư hay viên miễn phụ khoa, tiêu hóa đường ruột hay da thường cao hơn so với những nơi có nguồn nước sạch. Tỉ lệ người mắc thường chiếm tới 40-50% một con số cực kỳ cao, đáng báo động khi nguồn nước sử dụng đang bị ô nhiễm.

    Nước sông Đáy, đoạn qua xã Lam Điền đã bị biến màu đen, hôi tanh
     
    Theo Bộ Y tế và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cứ trung bình mỗi năm có khoảng 9 ngàn người chết vì nguồn nước bẩn và vệ sinh kém chất lượng; số ca mắc ung thư tới 100 ngàn người. Trong đó, nguyên nhân tìm ra là do nguồn nước ô nhiễm, không bảo vệ sinh và độ an toàn cho người sử dụng. Bên cạnh đó, WHO cũng cho biết, tại Việt Nam có khoảng 44% trẻ nhỏ bị nhiễm giun sán, 27% trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng.
    Ngoài vấn đề về sức khỏe con người bị ảnh hưởng thì ô nhiễm nước còn gây tổn thất nghiêm trọng tới kinh doanh, sản xuất (trồng lúa, hoa màu), chăn nuôi và thủy sản…..
    Một điều đáng lo ngại hiện nay là tỉ lệ người mắc các loại bệnh ung thư cực kỳ cao. Theo như nhiều nghiên cứu khoa học, nguồn nước mà trong đó có lượng asen có tỉ lệ mắc bệnh ung thư cực lớn, thường gặp nhất là ung thư da. Bên cạnh đó, nó còn gây ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn của con người, dù 1 lượng asen cực nhỏ là 0,1mg/l. Vì thế, khi phát hiện nước bị nhiễm độc cần xử lý trước khi sử dụng để đảm bảo an toàn.
    Chưa hết, một số dấu hiệu nhiễm bệnh dễ thấy khi sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm đó là:
    + Nhiễm chì hay gặp các bệnh về thận, thần kinh
    + Nhiễm Amoni làm da xanh, cơ thể thiếu sức sống
    + Nhiễm Natri gây bệnh về cao huyết áp, tim mạch
    + Nhiễm Cadimi có thể gây đau lưng hoặc thoái hóa đốt sống
    + Các hợp chất hữu cơ, thuốc trừ sâu, thuốc bảo quản thực vật gây cảm giác ói, nôn hoặc cao hơn là ngộ độc.
    Nước thải sinh hoạt chiếm trên 30% tổng lượng thải trực tiếp ra các sông hồ hay kênh rạch dẫn ra sông. Theo số liệu tính toán của cơ quan môi trường cho thấy Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng là 2 vùng tập trung nhiều lượng nước thải sinh hoạt nhất cả nước.
    Vùng Đông Nam bộ với toàn bộ các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nơi tập trung các KCN lớn, là vùng có lượng phát sinh nước thải công nghiệp lớn nhất cả nước. Số lượng KCN có hệ thống xử lý nước thải vẫn đang ở mức trung bình (50-60%), hơn nữa, 50% trong số đó vẫn chưa hoạt động hiệu quả.
    Theo các nghiên cứu tác động Môi trường của cơ quan Tổng cục Môi trường cho thấy: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD: Biochemical oxygen Demand – là lượng oxy cần thiết cung cấp cho vi sinh vật để oxi hóa các chất hữu cơ), nhu cầu ôxy hoá học (COD: Chemical oxygen Demand – là khối lượng oxy cần tiêu hao trên 1 lít nước thải) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng… cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép. Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư.
    Bên cạnh những nguồn thải nêu trên, nước thải nông nghiệp cũng là vấn đề đáng quan tâm hiện nay. Đó là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến nguồn nước tại những địa phương có nền kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh như vùng ĐBSCL. Nước thải từ hoạt động nông nghiệp có chứa hóa chất bảo vệ thực vật hay thuốc trừ sâu là thành phần độc hại cho môi trường và sức khỏe con người. Đặc biệt, các khu vực này, đời sống dân cư vẫn gắn với nguồn nước sông, dùng làm nước sinh hoạt hay sử dụng để nuôi trồng thủy sản.
    Nguyên nhân
    Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người dân về vấn đề môi trường còn chưa cao…

    Hành vi đổ trộm dầu bẩn khiến nước đầu nguồn sông Đà ô nhiễm. Ảnh: Hồng Quang
     
    Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường. Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước.
    Bên cạnh đó, các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu, cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng. Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn. Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường nước gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước.

    Một số nguyên nhân cụ thể:
    1. Nước thải sinh hoạt: Nhu cầu thải nước thải sinh hoạt hàng ngày, thông qua ăn uống, sinh hoạt, vệ sinh hàng ngày… Nước thải sinh hoạt tại gia đình, trường học, bệnh viện ở các khu nông thôn cho tới thành phố vẫn chưa được xử lý. Thường là được đổ thẳng ra ngoài cống rãnh hoặc kênh mương, ao hồ bị thiếu hụt ô-xy khiến cho các động vật, thực vật khó tồn tại.
    2. Nước thải công nghiệp: Đến từ các nhà máy, khu chế xuất hoặc sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp… So với nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp có những thành phần khác nhau, do phải phụ thuộc vào ngành sản xuất của họ. Nếu như đơn vị sản xuất thực phẩm thì thành phần bên trong nước thải sẽ chứa nhiều chất hữu cơ. Nếu như đơn vị chuyên sản xuất vải, thành phần nước thải sẽ chứa nhiều hóa chất như chì, crom, thủy ngân, asen… Biết là nước thải công nghiệp hiện đại độc hại nhưng các đơn vị, cơ sở sản xuất công nghiệp, khu chế xuất vẫn chưa có bể xử lý trước khi thải ra ngoài. Điều này ảnh hưởng tới môi trường, hệ sinh thái và đặc biệt là sức khỏe của con người.
    3. Nước thải y tế: Chủ yếu xuất phát từ bệnh viện ở các khu phòng phẫu thuật, thí nghiệm, nhà vệ sinh, giặt là, rửa thực phẩm… Nước thải ý tế chứa nhiều vi rút, vi rút cực kỳ nguy hiểm và có tốc độ lây lan phát triển mạnh. Các mầm bệnh khi đã cư trú tại cơ thể lại dễ bộc phát và lan thành dịch bệnh. Vì thế, nước thải từ khu truyền nhiễm, lây truyền bị coi là bỏ lỏng hiện nay.
    4. Nước thải nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi): Các hoạt động trồng trọt có sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học… có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm. Ngoài ra, trong quá trình chăn nuôi gia súc, phân – nước tiểu – thức ăn thừa của động vật, không xử lý cũng làm ảnh hưởng đến môi trường nước bị ô nhiễm.

    Giải pháp
    Từ góc độ nhìn nhận nguyên nhân gây ra vấn đồ ô nhiễm nguồn nước, chúng ta cần có kế hoạch để xử lý. Biện pháp khắc phục này không chỉ đến từ một cá nhân mà hơn thế còn là cả cộng đồng và các cơ quan quản lý có chức trách. Nhằm chung tay để khắc phục tình trạng ô nhiễm nước mang tới nguồn nước sạch, bảo vệ sức khỏe chính mình và những người thân yêu.
    Thứ nhất: Đối với các đơn vị, ban ngành chỉ đạo phải đưa ra các đạo luật cụ thể, cứng rắn và tuân thủ đúng luật. Đối với các trường hợp vi phạm cần xử lý nghiêm minh, thẳng thắn để răn đe, làm gương cho các đối tượng khác.
    Thứ hai: Đối với các đơn vị sản xuất cần nghiêm chỉnh chấp hành luật, thực hiện đúng biện pháp để xử lý nước thải công nghiệp trước khi thải ra ngoài (xây hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn). Đó chính là cách để doanh nghiệp phát triển bền vững và cũng bảo vệ chính mình.
    Thứ ba: Đối với cá nhân phải thay đổi ý thức về việc bảo vệ nguồn nước. Nghiêm cấm tình trạng vứt rác bừa bãi ra đường, xuống cống rãnh hoặc sông. Hạn chế sử dụng túi nilong, thay vào đó là sử dụng túi giấy hoặc túi bảo vệ môi trường là tốt nhất.
    Thứ tư: Ngoài ra, mỗi điểm cần xây dựng điểm thu gom rác thải tập trung (có thùng đựng rác và phân loại rác trước khi xử lý). Đối với những nguồn nước bị ô nhiễm trước cần tìm cách để “hồi sinh”, tái tạo lại hệ sinh thái ở xung quanh đó.
    Môi trường nước sạch hay bẩn, sức khỏe và một đời sống lành mạnh đều phụ thuộc vào thái độ, cách ứng xử của bạn với nó. Vì thế, hãy nâng cao ý thức, đẩy mạnh quá trình tuyên truyền để cả xã hội chung tay bảo vệ môi trường được hiệu quả hơn. Và vấn đề ô nhiễm môi trường nước sẽ không còn là vấn đề đáng ngại nữa.
     
  • Hà Nội: Giám sát hoạt động xử lý nước thải tại các cụm công nghiệp

    Hà Nội: Giám sát hoạt động xử lý nước thải tại các cụm công nghiệp
    Ban Đô thị HĐND TP Hà Nội giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động xử lý nước thải tại các cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố vào cuối tháng 4/2020.
    HĐND TP Hà Nội vừa ban hành Quyết định thành lập Đoàn giám sát của Ban Đô thị HĐND thành phố giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động xử lý nước thải tại các cụm công nghiệp trên địa bàn TP Hà Nội. Dự kiến, đợt giám sát sẽ được tiến hành trong thời gian cuối tháng 4/2020.
    Hà Nội sẽ giám sát hoạt động xử lý nước thải tại các cụm công nghiệp
     
    Ngoài đánh giá kết quả việc thực hiện các quy định pháp luật, sự chỉ đạo, điều hành của UBND thành phố trong hoạt động đầu tư hệ thống xử lý nước thảihoạt động xử lý nước thải tại các cụm công nghiệp trên địa bàn TP Hà Nội, Đoàn giám sát sẽ làm rõ những khó khăn, vướng mắc, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong việc thực hiện các nội dung kiến nghị tại Báo cáo số 99/BC-HĐND ngày 15/9/2017 về tình hình, kết quả việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung tại 19 cụm công nghiệp đang hoạt động nhưng chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung; kết quả việc nâng cấp, nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống xử lý nước thải tập trung của 11 cụm công nghiệp đã được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng chưa được đưa vào vận hành, đang vận hành thử hoặc không hoạt động hoặc hoạt động kém hiệu quả.
    Đặc biệt, Đoàn giám sát sẽ kiểm tra kết quả việc xây dựng giá dịch vụ thoát nước trên địa bàn thành phố và việc sửa đổi, bổ sung quy định của thành phố về phân cấp thu phí bảo vệ môi trường, đảm bảo phù hợp quy định mới của pháp luật. Kết quả đánh giá, rà soát hiệu quả đầu tư, mô hình quản lý của các chủ đầu tư cụm công nghiệp là UBND cấp huyện, UBND cấp xã hiện hoạt động; kế hoạch, lộ trình chuyển đổi chủ đầu tư cụm công nghiệp cho các đơn vị có đủ năng lực.
     
  • 7 trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

    7 trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
    Chính phủ vừa ban hành Nghị định 53/2020/NĐ-CP quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, trong đó có những điểm mới về đối tượng chịu phí cũng như mức phí…, các trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.    
    Ảnh minh họa
    Nghị định 53/2020/NĐ-CP nêu rõ: Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trườngnước thải công nghiệp thải vào nguồn tiếp nhận nước thải theo quy định pháp luật và nước thải sinh hoạt, trừ trường hợp miễn thu phí theo quy định.
    Trong đó, nước thải công nghiệpnước thải từ các nhà máy, địa điểm, cơ sở sản xuất, chế biến (sau đây gọi chung là cơ sở) của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, bao gồm: Cơ sở sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, thực phẩm, rượu, bia, nước giải khát, thuốc lá; cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô trang trại theo quy định pháp luật về chăn nuôi; cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm; cơ sở nuôi trồng thủy sản thuộc diện phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc kế hoạch bảo vệ môi trường theo quy định; nhà máy cấp nước sạch, nhà máy điện; hệ thống xử lý nước thải tập trung tại khu đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, cảng cá, khu công nghệ cao và các khu khác…
    Nước thải sinh hoạt là nước thải từ hoạt động của: Hộ gia đình, cá nhân; cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức khác; cơ sở rửa ô tô, rửa xe máy, sửa chữa ô tô, sửa chữa xe máy; cơ sở khám, chữa bệnh; nhà hàng, khách sạn; cơ sở đào tạo, nghiên cứu; cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác.
    Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thải nước thải quy định trên là người nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Trường hợp các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thải nước thải vào hệ thống xử lý nước thải tập trung và trả tiền dịch vụ xử lý nước thải cho đơn vị quản lý, vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung theo cơ chế giá dịch vụ thì đơn vị quản lý, vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung là người nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo quy định.
    Nghị định cũng quy định 7 trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải gồm: 
    1- Nước xả ra từ các nhà máy thủy điện.
    2- Nước biển dùng vào sản xuất muối xả ra.
    3- Nước thải sinh hoạt của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở các xã; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở các phường, thị trấn chưa có hệ thống cấp nước sạch; hộ gia đình, cá nhân không kinh doanh ở các phường, thị trấn đã có hệ thống cấp nước sạch tự khai thác nước sử dụng.
    4- Nước làm mát (theo quy định pháp luật về bảo vệ môi trường) không trực tiếp tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm, có đường thoát riêng.
    5- Nước thải từ nước mưa tự nhiên chảy tràn.
    6- Nước thải từ các phương tiện đánh bắt thủy sản của ngư dân.
    7- Nước thải của các hệ thống xử lý nước thải tập trung khu đô thị (theo quy định tại Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06/8/2014 của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải) đã xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường theo quy định trước khi thải vào nguồn tiếp nhận.
    Về mức phí, Nghị định nêu rõ: Mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt là 10% trên giá bán của 1m3 nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trường hợp cần áp dụng mức phí cao hơn, Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định mức phí cụ thể cao hơn đối với từng đối tượng chịu phí.
    Về mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp, Nghị định quy định: Cơ sở có tổng lượng nước thải trung bình trong năm dưới 20 m3/ngày (24 giờ) áp dụng phí cố định tính theo khối lượng nước thải (không áp dụng mức phí biến đổi) như sau: Năm 2020, áp dụng mức phí 1.500.000 đồng/năm.
    Nghị định 53/2020/NĐ-CP quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2020.
     

Sản phẩm


  • Hệ thống xử lý nước thải

    Nước thải sinh hoạt là loại nước thải phát sinh từ các khu nhà bếp, khu nhà ăn, tắm giặt, vệ sinh… các nguồn nước thải này tập trung nhiều ở các khu căn hộ, cơ quan, khu chung cư, trường học, bệnh viện, các công trình công cộng... Chính vì vậy việc xây dựng một hệ thống XLNT và nghiêm cứu các phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt cho phù hợp với đặc tính của từng khu dân cư là điều hết sức cần thiết.

    Từ đặc điểm của từng khu dân cư và thành phần của nước thải, chúng ta có các phương pháp xử lý cơ bản như sau:
    Phương pháp xử lý cơ học:
    Xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học là phương pháp xử lý nhằm loại bỏ các loại tạp chất không hòa tan trong nước thải và thường được xử lý bằng các loại song chắn rác, các bể lọc, bể lắng các loại. Song chắn rác sẽ có nhiệm vụ giữ lại các loại rác hữu cơ không tan và có kích thước lớn nhằm hạn chế việc tắc đường ống dẫn nước thải. Bể lắng cát là nơi làm nhiệm vụ loại bỏ các chất vô cơ trong hệ thống XLNT. ở đây chất vô cơ chủ yếu là cát.
    Phương pháp xử lý sinh học:
    Đây là phương pháp xử lý dựa vào khả năng ô xy hóa các liên kết hữu cơ dạng không tan và hòa tan của các loại vi sinh vật. Để thuận tiện trong công tác xử lý nước thải, chúng ta thường xây dựng các công trình xử ý sinh học trong điều kiện nhân tạo. các công trình này bao gồm Bể lọc sinh học các loại, bùn hoạt tính, Hồ sinh học thổi khí, mương oxy hóa.

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT
    THUYẾT MINH:  QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI

    Các quy trình xử lý chính trong Trạm 
    xu ly nuoc thai bao gồm các bước sau đây:
    1.      Bước 1: Điều hoà lưu lượng và ổn định nồng độ pH ở giá trị thích hợp tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình xử lý vi sinh tiếp theo.
    2.      Bước 2:  Xử lý BOD, COD bằng phương pháp oxy hoá sinh học, các vi sinh vật sử dụng các chất hữu cơ trong nước thải làm nguồn thức ăn (đồng thời với quá trình tiêu thụ oxy không khí và nito, photpho).
    3.      Bước 3: Loại bỏ các chất lơ lửng, các chất ô nhiễm còn lại trong nước thải bằng biện pháp cơ học. 
    4.      Bước 4: Tiêu diệt các vi khuẩn có hại bằng phương pháp khử trùng, điều chỉnh pH

    Công nghệ xử lý áp dụng trong hệ thống:
    Xử lý sinh học: là sự kết hợp của 2 quá trình cơ bản:
    + Xử lý thiếu khí: nồng độ ô xy gần như bằng 0 như yếm khí nhưng có mặt NO3-
         HC + NO3+ vi khuẩn dị dưỡng → CO2 + N2 + H2O + sinh khối mới
    + Xử lý hiếu khí:
          HC (chất hữu cơ) + O2 + vi khuẩn dị dưỡng hiếu khí → CO+ H2O + sinh khối mới
         Như vậy trong quá trình này, hệ vi sinh xử lý được các chất hữu cơ. Nếu phản ứng kéo dài ở điều kiện hiếu khí, khi HC còn rất ít ta sẽ thực hiện được quá trình nitrat hóa:
         NH3 + O2 + vi khuẩn tự dưỡng hiếu khí → NO3- + H2O + sinh khối mới
         Trong quá trình này, hệ vi sinh xử lý được các hợp chất hữu cơ chứa N và NH3, biến N thành NO3-
    Việc đưa thêm giá thể vi sinh nhằm phát huy cao nhất khả năng tham gia của các loài vi sinh vật lơ lửng và VSV bám dính, đồng thời làm ổn định mật độ vi sinh và tăng hiệu suất xử lý.

    Nguyên lý hoạt động:
    Với đặc trưng của nước thải sinh hoạt chứa chủ yếu là hợp chất hữu cơ dễ phân huỷ sinh học; thành phần bã thải lớn; thành phần dinh dưỡng N, P cao; các chất kiềm hãm quá trình phát triển của vi sinh vật thấp. Dựa trên các yếu tố đó công nghệ được xây dựng tập trung vào các công đoạn xử lý chính đó là: Xử lý hiếu khí bằng bùn hoạt tính và khử trùng.
    Qua đó, quy trình công nghệ đưa ra như hình 1 dựa trên các quá trình cơ bản sau:
    + Quá trình bùn hoạt tính (diễn ra trong Bể Aerotank);
    + Quá trình lắng bùn (diễn ra trong Bể lắng);
    + Quá trình phá huỷ tế bào vi sinh vật gây hại.
    Sau quá trình khử trùng để tiêu diệt lượng vi sinh vậy còn sót lại trong nước bằng hóa chất, nước thải sẽ được dẫn ra hệ thống thoát nước chung của đô thị.

    Để được tư vấn xây dựng một 
    hệ thống xử lý nước thải áp dụng những công nghệ tiên tiến nhất, quý khách vui lòng liên hệ Hotline: 0845566899 - 02463267889 để được tư vấn miễn phí.
    Công ty cổ phần Vites còn hoạt động trong các lĩnh vực sau:
    Lĩnh vực hoạt động khác của 
    Công ty cổ phần Vites

    ·Cung cấp thiết bị, hệ thống, trạm xử lý khí thải

    ·Cung cấp thiết bị, hệ thống, trạm xử lý nước thải 

    ·Cung cấp máy móc, thiết bị quan trắc môi trường tự động

    ·Cung cấp máy móc thiết bị, hóa chất phòng thí nghiệm và xử lí môi trường

    ·Tư vấn môi trường

    ·Nâng cấp sửa chữa hệ thống XLMT