So sánh sản phẩm
chọn tối đa 4 sản phẩm

Tin tức


  • TP Hồ Chí Minh: Người dân có thể dùng nước sinh hoạt làm từ nước thải

    TP Hồ Chí Minh: Người dân có thể dùng nước sinh hoạt làm từ nước thải
    UBND TP Hồ Chí Minh cho biết, dự kiến tới năm 2030 TP sẽ tiến hành tận dụng nguồn nước thải sau xử lý làm nước sinh hoạt cho người dân.
    Ngày 16/10, UBND TP Hồ Chí Minh đã giao Sở Xây dựng và các bên liên quan nghiên cứu để tới năm 2030 có thể xây dựng các nhà máy cấp nước nằm cạnh nhà máy nước thải.
     
     
    Dự kiến tới năm 2030, người dân TP có thể dùng nước sinh hoạt làm từ nước thải.
    Theo đó, việc bố trí 2 nhà máy nước cạnh nhau nhằm tận dụng toàn bộ nước thải sau xử lý (650.000 m3/ngày) làm nguyên liệu đầu vào cho nhà máy nước sinh hoạt. Diện tích còn lại sau khi xây các nhà máy nước cần được tận dụng để tạo các mảng xanh, công viên, tạo cảnh quan môi trường cho dự án.
    Trước đó, ngày 25/9, Sở Xây dựng cho biết nguồn nước của TP đang đứng trước nhiều nguy cơ. Ngoài tác động của biến đổi khí hậu, nguồn nước có nguy cơ đối mặt với việc ô nhiễm nguồn nước thô trong tương lai do tác động của sự phát triển đô thị. Trong khi đó, TP còn thiếu kế hoạch dự phòng để ứng phó với những diễn biến bất thường của nguồn nước.
    Sở Xây dựng thống kê cho thấy, tổng công suất nước sạch của TP là 2,4 triệu m3/ngày, công suất vận hành phát nước là hơn 1,8 triệu m3/ngày. Như vậy, các nhà máy nước còn lượng công suất dự phòng là khoảng 500.000 m3/ngày.
    Liên quan đến vấn đề nước sạch của TP, ông Võ Văn Hoan - Phó chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh đánh giá, hiện nay TP có tốc độ đô thị hóa cao, trung bình 5 năm TP tăng 1 triệu dân. Do đó, việc có đủ nước sạch để người dân sử dụng trong tương lai là một thách thức lớn.
    Theo ông Hoan, những năm qua TP có nhiều nỗ lực, cơ bản hoàn thành chỉ tiêu 100% người dân tiếp cận và sử dụng nước sạch. Tuy nhiên, hệ thống cấp nước vẫn chưa đáp ứng được sự phát triển. Nguồn nước thô đầu vào từ sông Đồng Nai, sông Sài Gòn ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng.
    Do nằm ở hạ lưu nên TP không thể kiểm soát ô nhiễm nguồn nước thô đầu nguồn. Ngoài ra, biến đổi khí hậu làm nguồn nước sông bị xâm nhập mặn, dẫn đến nguy cơ mất an toàn nguồn nước là rất cao.
    Chia sẻ thêm về những bất cập, tồn tại trong công tác cung cấp nước sạch ở TP, ông Hoan cho biết hiện hệ thống hạ tầng chuyển nước được cải thiện. Tuy nhiên, nhiều đường ống xây dựng đã lâu chưa được cải tạo.
    Cũng theo ông Hoan, chính hệ thống đường ống quá cũ, có ống hơn 50 năm dẫn đến tỉ lệ thất thoát nước cao, chất lượng nước sạch giảm.
    "TP vẫn không có bể trữ nước để phân phối, chủ yếu dẫn nước trực tiếp từ nhà máy đến các hộ dân. Vì vậy, có thực trạng chất lượng nước ở nhà máy có thể dùng ăn uống trực tiếp, nhưng khi qua ống dẫn đến với các hộ dân thì không đạt chỉ tiêu, chất lượng. Thời gian lưu nước trên hệ thống dài gây lắng cặn trong ống dẫn", ông Hoan dẫn chứng thêm.
    Nhằm giải quyết vấn đề này, các cơ quan chức năng cho biết TP đang quyết tâm kéo giảm tỉ lệ thất thoát nước xuống thấp hơn nữa (hiện tỉ lệ thất thoát là 23,31%).
     
  • Nước thải đô thị ở Việt Nam: Tại sao 87% chưa được xử lý?

    Nước thải đô thị ở Việt Nam: Tại sao 87% chưa được xử lý?
    Bộ Xây dựng cho biết với gần 1.000 đô thị nhưng hiện chỉ có khoảng 13% nước thải đô thị ở nước ta được xử lý. Như vậy, gần 90% nước thải đang xả ra môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe dân thành thị. Tại sao nước thải đô thị ở Việt Nam lại được xử lý ít như vậy?
    Cống xả thải trực tiếp xuống đoạn sông Tô Lịch nơi Cầu Giấy làm ô nhiễm dòng nước. Ảnh: TG

    Cả nước mới xử lý được 13% nước thải đô thị
    Tốc độ đô thị hóa quá nhanh đã khiến cho Việt Nam phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường, trong đó có xử lý nước thải. Điều đáng nói là hệ thống xử lý nước thải đô thị chưa hiệu quả, số lượng ít, chủ yếu vẫn xả thải trực tiếp ra môi trường xung quanh như hồ, ao, sông...
    Ông Vũ Ngọc Anh, Vụ trưởng Vụ khoa học Công nghệ và Môi trường (Bộ Xây dựng) cho biết: “Hiện nay, cả nước mới chỉ có 43 nhà máy xử lý nước thải đô thị với tổng công suất thiết kế trên 926.000 m3/ngày đêm. Tỷ lệ nước thải được thu gom và xử lý đạt ở mức thấp, chiếm khoảng 13%”.
    Thực tế, ở Thủ đô Hà Nội tuy đã có 6 nhà máy xử lý nước thải hoạt động với công suất từ 2.300 m3/ngày đêm 200.000 m3/ngày đêm, nhưng cũng mới chỉ xử lý được khoảng 22% tổng số lượng nước thải của toàn thành phố mỗi ngày.
    Theo Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, lượng nước cấp khoảng 1.850.000 m3/ngày, ước tính nước thải phát sinh mỗi ngày có 1.579.000 m3. Vậy mà địa phương này cũng chỉ xử lý được có 370.624 m3, đạt tỷ lệ 21,2%, tức còn thấp hơn cả Hà Nội. Như vậy, cả hai thành phố lớn nhất cả nước gần 80% nước thải không qua xử lý đã xả thẳng ra môi trường.
    Ngoài ra, hiện Thành phố Hồ Chí Minh còn có hơn 4.200/4.335 cơ sở sản xuất công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 96%. Với 121 bệnh viện nhưng 100% bệnh viện đều có hệ thống xử lý nước thải với tỉ lệ nước thải được thu gom đạt 98,94%.
    Nước thải từ các hộ dân cũng như các nhà hàng, khách sạn, cơ sở sản xuất bấy lâu nay vốn xả trực tiếp xuống sông Tô Lịch, biến nó thành dòng sông chết, mặc dù cách đây khoảng 30 năm, người dân còn tắm sông. Đây là nguyên nhân chính lý giải tại sao 70 - 80% sông, hồ, ao ngày càng ô nhiễm nặng. Sau gần nửa năm thử nghiệm đưa công nghệ Nhật Bản vào xử lý 300 m ô nhiễm sông Tô Lịch và một phần Hồ Tây vẫn chưa đem lại kết quả như mong đợi.

    Đâu là giải pháp?
    Phó giáo sư, Tiến sĩ Phùng Chí Sỹ, Giám đốc Trung tâm Công nghệ Môi trường (ENTEC), Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam cho biết: “Muốn làm sạch sông Tô lịch thì phải chặn được nguồn xả thải vào sông. Việc giải quyết vấn đề ô nhiễm trên mặt sông mới chỉ là phần ngọn.
    Do vậy, sau khi giải quyết xong, nước bẩn lại xả vào sông thì sông lại ô nhiễm. Chính vì thế, người ta đưa ra công nghệ vào mới chỉ xử lý phần ngọn, còn lâu dài chúng ta phải khắc phục, phải chặn từ nguồn. Cụ thể, phải thu gom nước thải, sau đó mới xử lý chứ không nên xả thẳng vào sông Tô Lịch như hiện nay”.
    Ở Thành phố Hồ Chí Minh bấy lâu nay chống ô nhiễm cho sông Sài Gòn bước đầu đem lại kết quả khả quan . Ủy ban Nhân dân thành phố xây dựng hai đường ống thu gom nước thải từ trong khu dân cư chảy ra, chạy dọc hai bờ sông chứ không cho xả thải trực tiếp xuống dòng sông.
    Vì thế, nước thải từ dân cư đã qua xử lý. Thành phố Hồ Chí Minh dùng biện pháp thau rửa, dùng nước sạch cho chảy vào dòng. Hơn nữa, hàng năm nước thủy triêu lên xuống, góp phần thay đổi dòng nước của thành phố”.
    Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội cũng thừa nhận tiến độ thực hiện các dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải còn chậm và kéo dài. Vốn đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước rất lớn, trong khi huy động từ nguồn xã hội hóa khó khăn. Hiện còn 12 dự án cần được triển khai thực hiện.
    Xử lý nước thải đô thị đang là bài toán khó đối với Việt Nam hiện nay. Trong khoảng 15 năm qua, do tốc độ đô thị hóa quá nhanh, với sự hiện diện của hơn 800 đô thị đã thực sự trở thành gánh nặng môi trường cho người dân, nhất là tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội khi hạt bụi mịn vượt quy chuẩn cho phép và mới chỉ khoảng 22% nước thải qua xử lý.
    Rõ ràng, nếu không có những giải pháp khả thi thì ô nhiễm môi trường từ nước thải tại đô thị Việt Nam ngày càng trầm trọng, gia tăng bệnh tật và giảm chất lượng cuộc sống của người dân. Đây là đòi hỏi cấp bách với các cấp, ngành liên quan và cần sớm có câu trả lời để người dân yên tâm lao động và sinh sống.
    Theo kế hoạch, đến năm 2020 nếu thành phố Hồ Chí Minh khánh thành thêm 3 nhà máy thì 80% lượng nước thải sinh hoạt đô thị của thành phố sẽ được thu gom, xử lý. Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank): Việt Nam cần tới 8,3 tỷ USD để cung cấp dịch vụ thoát nước cho khoảng 36 triệu dân đô thị vào năm 2025.
     
  • Phương án tối ưu hồi sinh sông Tô Lịch

    Phương án tối ưu hồi sinh sông Tô Lịch
    Thời gian vừa qua, TP Hà Nội đã triển khai thí điểm hàng loạt biện pháp nhằm cải thiện môi trường hệ thống sông, hồ trên địa bàn nói chung và sông Tô Lịch nói riêng. Theo nhiều chuyên gia, xét một cách tổng thể, những biện pháp đã thực hiện chưa đủ sức “hồi sinh” dòng sông này.
    Mới xử lý phần ngọn
    Như đã nói, với nỗ lực “hồi sinh” sông Tô Lịch, hàng loạt biện pháp như chế phẩm Redoxy 3C, công nghệ Nano Bioreactor, dẫn nước sông Hồng bổ cập cho Hồ Tây, từ đó cải thiện môi trường nước sông Tô Lịch đã được các lực lượng chức năng TP nghiên cứu, triển khai thí điểm. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, những biện pháp trên mới chỉ đáp ứng được 1, 2 điều kiện tối thiểu trong hàng loạt các điều kiện cần và đủ để hồi sinh sông Tô Lịch.
    Sông Tô Lịch. Ảnh: Công Hùng
    Muốn cải tạo sông Tô Lịch, các đơn vị có liên quan buộc phải trả lời, đáp ứng được những điều kiện như sau: Thứ nhất, ngăn được nguồn nước thải không đổ trực tiếp vào sông; thứ hai, phải đảm bảo mực nước tối thiểu để duy trì hệ sinh thái trong sông nhằm tạo cảnh quan cũng như nhu cầu tự làm sạch; thứ ba, phải tạo ra được dòng chảy cho sông Tô Lịch, bởi đã là sông phải có dòng chảy... Đó là chưa kể đến việc phải tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ, giữ gìn cảnh quan, vệ sinh môi trường sông Tô Lịch. Nếu đối chiếu theo những yêu cầu bắt buộc thì rõ ràng không có một biện pháp nào đã được thực hiện thí điểm đủ sức để “hồi sinh” sông Tô Lịch, mà phải cùng thực hiện đồng bộ.
    Theo các chuyên gia, biện pháp cải thiện môi trường bằng chế phẩm hay công nghệ (Redoxy 3C, Nano – Bioreactor) suy cho cùng chỉ là những biện pháp cắt ngọn. Bởi, để thực hiện biện pháp này, các chuyên gia sẽ đưa một lượng chế phẩm, máy móc xuống lòng sông để từng bước khắc phục tình trạng ô nhiễm. Tuy nhiên, do sông Tô Lịch thường xuyên có lượng nước bổ cập nên biện pháp này không phù hợp, việc bổ sung chế phẩm, máy móc, vừa tốn kinh phí nhưng hiệu quả chẳng khác gì chuyện “Dã Tràng xe cát biển Đông”.
    Tương tự, đối với đề xuất dẫn nước sông Hồng bổ cập nước Hồ Tây từ đó cải thiện nước sông Tô Lịch. Biện pháp này đã giải được một số bài toán “hồi sinh” sông Tô Lịch như tạo được dòng chảy, pha loãng được mức độ ô nhiễm. Tuy nhiên, do chưa tách, ngăn chặn được nước thải chưa qua xử lý chảy xuống sông nên cũng chưa thể giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm của sông Tô Lịch.
    Thời cơ và thách thức
    Theo đánh giá của các chuyên gia, dù vẫn còn những thiếu sót, bất cập, nhưng biện pháp dẫn nước sông Hồng bổ cập nước Hồ Tây từ đó cải thiện nước sông Tô Lịch là giải pháp hợp lý nhất tại thời điểm này, đặc biệt là trong tương lai khi dự án Nhà máy xử lý nước thải Yên Xá hoàn thành và đi vào hoạt động.
    Ông Lê Minh Châu - nguyên Giám đốc Công ty Thoát nước Hà Nội cho rằng, không chỉ môi trường Hồ Tây, sông Tô Lịch được cải thiện, nếu được triển khai thực tế, nó còn góp phần quan trọng khơi dậy những hình ảnh, giá trị trong lịch sử. Cụ thể, sau khi cải tạo được Hồ Tây, sông Tô Lịch, chúng ta có thể xem xét kết nối với hồ Thủ Lệ, hồ Yên Duyên, Yên Sở. Thậm chí, nếu kè thẳng bờ, đáy sông Tô Lịch, mở rộng mặt cắt sông, cải tạo các cầu trên sông thành cầu vòng… sẽ tạo thành một tuyến giao thông đường thủy xuyên qua TP.
    Nguyên Giám đốc Ban Quản lý dự án Thoát nước Hà Nội Phạm Văn Cương thông tin thêm, TP dự kiến xây dựng đài phun nước cao 200m, xây dựng các công trình văn hóa khu vực Quảng An, trồng thêm cây xanh, trang trí ánh sáng quanh Hồ Tây… để tạo không gian vui chơi cho người dân Thủ đô.
    Song, những dự án trên sẽ không thể phát huy được hiệu quả khi mực nước Hồ Tây xuống thấp vào mùa khô. Do đó, đề xuất dẫn nước từ sông Hồng vào bổ cập cho Hồ Tây, từ đó nâng cao chất lượng nước sông Tô Lịch cần được nghiên cứu và thực hiện càng sớm càng tốt để Thủ đô ngày càng xanh tươi, sạch và đẹp hơn.
    Đồng tình với quan điểm trên, GS. TS Dương Thanh Lượng - trường Đại học Thủy lợi, trong những năm gần đây, lượng phù sa ở sông Hồng ngày càng suy giảm. Điều này gây bất lợi cho sản xuất nông nghiệp, nhưng nó thuận lợi cho việc bổ cập nước vào hồ Tây, làm sạch sông Tô Lịch khi quy trình xử lý bùn lấy nước đỡ phức tạp, tốn kém.
    Nhiều chuyên gia khẳng định, trong bối cảnh hiện nay sẽ không có biện pháp nào đủ mạnh để xử lý được tình trạng ô nhiễm tại sông Tô Lịch. Theo lý giải của các chuyên gia, hiện nay, biện pháp được chờ đợi nhất là Dự án xây dựng Nhà máy xử lý nước thải Yên Xá và xây dựng đường cống tách, ngăn nước thải chảy thẳng xuống sông Tô Lịch.
    Theo PGS. TS Trần Đức Hạ - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cấp thoát nước và Môi trường (Hội Cấp thoát nước Việt Nam), môi trường cảnh quan sông Tô Lịch cần thiết phải cải tạo bằng các giải pháp thu gom toàn bộ nước thải để xử lý (tập trung hoặc phi tập trung) với tổng lưu lượng 300.000 – 350.000m3/ngày, đảm bảo quy chuẩn môi trường trước khi xả trở lại sông. Tuy nhiên, các đơn vị chức năng cũng cần phải chú ý tạo dòng chảy và tăng cường quá trình tự làm sạch trong sông về mùa khô bằng giải pháp bổ sung nước sạch, đặc biệt là mùa khô.
    Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia cũng nêu vấn đề, mặc dù ngành thoát nước đã xây dựng các phương án để lắng đọng, nạo vét phù sa trong Hồ Tây. Tuy nhiên, đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với môi trường, cảnh quan, hệ sinh thái của Hồ Tây. Bởi, nếu làm không khéo, nguy cơ hồ biến thành bể sẽ hiện hữu.
    Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cấp thoát nước và Môi trường Trần Đức Hạ phân tích: Biện pháp dẫn nước sông Hồng để bổ cập nước cho Hồ Tây, từ đó cải thiện chất lượng nước sông Tô Lịch sẽ là giải pháp hợp lý kết hợp với việc thu gom toàn bộ nước thải để xử lý mà TP Hà Nội đang triển khai. Đã là sông phải có dòng chảy và biện pháp dẫn nước sông Hồng vào bổ cập cho Hồ Tây, từ đó cải thiện chất lượng nước cho sông Tô Lịch là một trong những việc làm cần thiết.
    "Với công nghệ hiện nay, máy bơm có thể cao vài chục mét và có thể bơm liên tục được, nhưng vấn đề là nguồn nước có ổn định hay không. Để có nguồn nước ổn định, người ta phải xây dựng các công trình nắn dòng. Nhưng cho đến nay, các chuyên gia về thủy lợi ở Việt Nam chưa thực hiện công trình tương tự." - GS.TS Vũ Trọng Hồng - nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT
    "Hiện tại, lượng phù sa ở sông Hồng chỉ còn bằng 1/7 so với cách đây khoảng chục năm, và theo tính toán, mức độ bồi lắng ở Hồ Tây sẽ không đáng kể, khoảng 0,5mm/năm và có lẽ phải 100 năm (khoảng 5cm) chúng ta mới cần nạo nét một lần. Thậm chí, nếu cần, chúng ta có thể khoanh vùng nhỏ trong hồ để thực hiện nạo vét định kỳ để tránh ảnh hưởng đến hệ sinh thái trong hồ." - GS.TS Dương Thanh Lượng - trường Đại học Thủy Lợi
    "Trên thế giới đã có nhiều nước sai lầm khi cống hóa các dòng chảy. Sau đó, họ phải lấy lại các dòng chảy bằng mọi cách khi nhận thấy, lợi ích mà các dòng chảy mang lại trong các khu đô thị. Hà Nội cũng không phải là ngoại lệ, nếu các dòng chảy trong Hà Nội không tạo nên lợi thế về giao thông thủy thì cũng giúp cân bằng môi trường sống. Do đó, việc tạo dòng chảy kết hợp chặt chẽ với việc ngăn chặn nguồn thải chảy xuống sông sẽ là giải pháp quan trọng để “hồi sinh” sông Tô Lịch." - GS.TS Trần Hiếu Nhuệ - Viện Kỹ thuật nước và Bảo bệ môi trường
  • Bộ TN-MT: Formosa Hà Tĩnh đã khắc phục được sự cố môi trường

    Bộ TN-MT: Formosa Hà Tĩnh đã khắc phục được sự cố môi trường

    TTO - "Từ tháng 7-2016 đến nay, nước thải, khí thải của Formosa Hà Tĩnh trước khi xả ra môi trường đã đáp ứng yêu cầu của quy chuẩn Việt Nam quy định và dần tiếp cận tiêu chuẩn của các nước tiên tiến trên thế giới", thứ trưởng TN-MT Võ Tuấn Nhân nói.

    Sáng 24-7, Bộ TN-MT phối hợp với tỉnh Hà Tĩnh tổ chức buổi hội thảo báo cáo kết quả thiết lập mô hình số trị, tính toán đánh giá xả nước thải sau khi xử lý của Formosa Hà Tĩnh.
    Tại buổi hội thảo, thứ trưởng Bộ TN-MT Võ Tuấn Nhân cho biết đơn vị này cơ bản đã hoàn thành các hạng mục cải thiện, bổ sung công trình xử lý nước thải và đang thực hiện chuyển đổi công nghệ dập cốc từ ướt sang khô, đảm bảo quy chuẩn quốc tế đúng như cam kết với Chính phủ.
    Theo ông Nhân, sau hơn 3 năm kể từ ngày xảy ra sự cố môi trường, đến nay Formosa Hà Tĩnh đã khắc phục được những sự cố và bảo đảm cho sự phát triển kinh tế và gắn liền với công tác bảo vệ môi trường.
    Đặc biệt, hồ xử lý sinh học cải thiện chất lượng nước trước khi xả ra biển và phòng ngừa ứng phó các sự cố với nước thải với nhiều cấp độ khác nhau.
    "Kết quả giám sát từ tháng 7-2016 đến nay, cho thấy nước thải, khí thải của Formosa Hà Tĩnh trước khi xả ra môi trường đã đáp ứng yêu cầu của quy chuẩn Việt Nam quy định và dần tiếp cận tiêu chuẩn của các nước tiên tiến trên thế giới", ông Nhân khẳng định.
    Một góc khu nhà máy Formosa Hà Tĩnh - Ảnh:VĂN ĐỊNH
    Phía Formosa Hà Tĩnh cũng cho rằng hệ thống hồ sinh học đã phát huy tốt vai trò làm dung tích chứa để kiểm soát sự cố, cải thiện chất lượng nước, đảm bảo an toàn về môi trường trước khi xả nước thải ra biển, đồng thời góp phần quan trọng trong cải tạo cảnh quan sinh thái khu vực.
    Theo báo cáo của Viện công nghệ Môi trường và Viện Cơ Học, trường hợp sự cố xấu nhất (sự cố xảy ra đối với hệ thống xử lý sinh hóa và sinh hoạt), cả hai phương án xả mặt và xả đáy đều xuất hiện vùng nước ô nhiễm vượt quy chuẩn, diện tích dưới 6km­­2 xung quanh cửa xả.
    Còn về chất lượng môi trường nước biển, cả hai phương án xả mặt và xả đáy đều đảm bảo cho vùng nước tiếp nhận và sự sai khác về nồng độ và diện tích lan truyền là nhỏ. Vì vậy, về mặt tác động môi trường đồng thời cân nhắc đến khía cạnh kinh tế, an toàn công trình, giao thông hàng hải, phương án duy trì đường ống xả thải ngầm là giải pháp tối ưu.
    Trong trường hợp xảy ra sự cố dài ngày, khả năng vùng biển ô nhiễm nặng, (vượt quy chuẩn Việt Nam) trên diện rộng là có thể xảy ra. Vì vậy, cần có quy trình kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải ra ngoài vùng biển nghiên cứu và các cơ sở xả thải được trang bị khả năng xử lý nhanh và hiệu quả sự cố xả thải.
     
  • Mỗi ngày các dòng sông Hà Nội nhận 600.000 m3 nước thải

    Mỗi ngày các dòng sông Hà Nội nhận 600.000 m3 nước thải
    Theo Dữ liệu tổng hợp của Ngân hàng Thế giới (World Bank) về nước thải của Hà Nội, mỗi ngày các con sông như Tô Lịch, Sét, Lừ, Kim Ngưu, Nhuệ phải nhận tới 600.000 m3 nước thải và trở thành nguồn ô nhiễm lộ thiên nguy hiểm.
    Sông Tô Lịch là một dòng sông chảy qua nhiều quận nội thành của Thủ đô Hà Nội. Ngày nay, sự phát triển công nghiệp, đô thị và sự bùng nổ dân số đang làm cho con sông này ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng. Nước thải của gần 7 triệu người dân, các bệnh viện, nhà máy, khu công nghiệp… ở Hà Nội thải ra 5 con sông chính là sông Tô Lịch, Kim Ngưu, Sét, Lừ và Nhuệ.
    Theo Dữ liệu tổng hợp của Ngân hàng Thế giới (World Bank) về nước thải của Hà Nội, mỗi ngày các con sông như Tô Lịch, Sét, Lừ, Kim Ngưu, Nhuệ phải nhận tới 600.000 m3 nước thải và trở thành nguồn ô nhiễm lộ thiên nguy hiểm. 
    Đặc biệt, mới chỉ có 22% lượng nước thải được xử lý, còn lại vẫn chưa qua xử lý và xả trực tiếp ra các sông, hồ trên địa bàn thành phố. Lượng bùn tích tụ, lắng đọng lâu ngày gây ra mùi hôi thối nồng nặc. Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng vứt, xả rác xuống dòng sông gây ô nhiễm môi trường và mất mỹ quan đô thị, khiến cho tình trạng ô nhiễm ngày càng trầm trọng.
    Cùng với sông Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ hợp thành hệ thống tiêu nước cho thành phố Hà Nội. Sông Lừ là một trong 5 dòng sông ở Hà Nội nước đen ô nhiễm quanh năm.
    Ô nhiễm nguồn nước ở sông Tô Lịch ảnh hưởng tới sức khỏe và sinh hoạt của người dân sống ở khu vực dọc 2 bên sông trong nhiều năm qua và tác động xấu tới hệ sinh thái thủy sinh, làm giảm khả năng phục hồi đa dạng sinh học.
    Không chỉ có sông Tô Lịch, tại các sông khác của Hà Nội như sông Lừ, sông Nhuệ, sông Kim Ngưu... tình trạng ô nhiễm cũng đang ở mức báo động. Ở nhiều đoạn, lòng sông chẳng khác gì ao tù, nước đen đặc, nổi váng, bốc mùi xú uế nồng nặc, ruồi nhặng bu kín... 
    Hàng chục năm qua người dân sinh sống dọc hai bên bờ của những dòng sông trên vẫn tìm cách sống chung với cảnh ô nhiễm.
    Bà Nguyễn Thị Hương (ở phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy) cho biết: Đoạn sông Tô Lịch chảy qua địa bàn phường Yên Hòa đang ngày một cạn kiệt và cứ sau mỗi trận mưa, trời nắng lên hoặc nổi gió thường xuất hiện hơi độc từ dưới sông bốc lên rất khó chịu.
    "Các hộ kinh doanh hàng quán dọc bờ sông luôn bị nhức đầu, hắt hơi, sổ mũi... Không ít gia đình sống tại đây vì không chịu nổi không khí ô nhiễm, đành phải cho thuê lại nhà, chuyển tới nơi khác sinh sống. Có thể thấy ngần ấy năm trôi qua, dòng sông Tô Lịch này vẫn nguyên chỉ là một màu đen kịt, mức độ ô nhiễm ở đây thì đủ loại, đặc biệt phải kể tới mùi hôi thối đặc trưng của nước con sông, mùi xú uế bốc lên từ xác động vật trôi nổi... Nên dù có thể giờ đây dòng sông đen hơn, nặng mùi hơn người dân cũng không còn sức kêu than nữa" - bà Hương chia sẻ.
    Sông Tô Lịch ô nhiễm, bốc mùi hôi thối khó chịu.
    Cũng giống như bà Hương, bà Vũ Thị Hoàn (ở đường Tam Trinh, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) sống gần sông Kim Ngưu chia sẻ: “Sông bẩn lắm, ai cũng tiện tay là vứt rác xuống. Khổ nhất là những hôm trời nắng nóng, mùi bốc lên không chịu được. Tôi trước kia hay đi tập thể dục dọc đoạn sông này, nay phải bỏ vì mùi thối cứ xộc vào mũi, gây bệnh tật!”.
    Công nhân môi trường nạo vét bùn ở sông Kim Ngưu.
    "Khi nào trời mưa là mùi hôi thối bốc lên dữ lắm. Trước đây, sông Lừ mới làm sạch lắm, các cô rửa rau, tắm giặt ở đây mà, còn bây giờ có ai dùng nữa đâu. Các bà ở đây cũng trách nhiệm lắm, nhìn thấy ai vứt rác xuống sông là cũng nhắc, và cũng thường xuyên vệ sinh nhưng mình làm sao mà chủ động được vì không biết rác ở đâu chảy về đây” - Bà Nguyễn Thị Năm (phố Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội) nói.
    Rác, rong rêu ô nhiễm phủ một lớp dày trên mặt sông Lừ.
    Khi trao đổi với phóng viên, những người dân sinh sống tại sông Sét, Nhuệ cũng chia sẻ tương tự các hộ dân sống ở gần các con sông nói trên.
    Theo một chuyên gia về lĩnh vực môi trường, sự ô nhiễm của các dòng sông nói trên chính là nơi sản sinh ra các các vi khuẩn có hại như Coliform, E.coli gây bệnh tật cho con người. 
    Sông Nhuệ nước đen kịt, bốc mùi hôi thối.
    Nhiều năm qua, thành phố Hà Nội cũng đã có nhiều cố gắng, quan tâm đến vấn đề xử lý sông Tô Lịch và các sông, hồ bị ô nhiễm. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại vẫn chưa giải quyết được triệt để vấn đề này. Trong khi đó, người dân, đặc biệt là người già, trẻ nhỏ hàng ngày sống cạnh các dòng sông chết, bốc mùi ô nhiễm nồng nặc không biết kêu ai.
    Chính vì vậy, người dân Thủ đô Hà Nội, đặc biệt là những hộ dân sinh sống dọc các con sông ô nhiễm nói trên mong muốn chính quyền Hà Nội cần quyết liệt hơn nữa trong việc xử lý vấn đề này.
  • Ô nhiễm nguồn nước ngầm ở Mai Sơn - nguyên nhân và giải pháp

    Ô nhiễm nguồn nước ngầm ở Mai Sơn - nguyên nhân và giải pháp
    SƠN LA - Đã một tuần nay, Trạm cấp nước Nà Sản, thuộc Xí nghiệp Cấp nước Mai Sơn, huyện Mai Sơn phải ngừng hoạt động do nguồn nước ngầm bị ô nhiễm, làm ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt của hơn 2.000 hộ dân trên địa bàn tiểu khu Nà Sản và thị trấn Hát Lót. Nguyên nhân bước đầu được xác định có thể do nước thải từ sơ chế quả cà phê, gây ô nhiễm đầu nguồn nước ngầm. Tái diễn tình trạng ô nhiễm từ sơ chế quả cà phê 
    Sở Tài nguyên và Môi trường làm việc với UBND huyện Mai Sơn về ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn.
    Theo thông tin từ Công ty cổ phần Cấp nước Sơn La, hầu như năm nào đến mùa thu hoạch cà phê thì các nguồn nước ở thành phố Sơn La hoặc thị trấn Hát Lót (Mai Sơn) đều bị ô nhiễm do nước thải từ sơ chế quả cà phê. Đặc biệt, năm 2017, ở Thành phố đã xảy ra ô nhiễm nguồn nước tới hơn 20 lần. Nghiêm trọng nhất là Nhà máy nước số 1 Thành phố đã phải dừng sản xuất 10 ngày liên tiếp (từ 4-14/11/2017) do việc xả nước thải, chất thải của các cơ sở, hộ gia đình chế biến cà phê quả tươi chủ yếu bằng phương pháp ướt trực tiếp ra môi trường, làm ảnh hưởng trực tiếp 12.000 hộ dân, gây bức xúc trong nhân dân.
    Trước thực trạng trên tỉnh Sơn La đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, giao nhiệm vụ cho các cấp, các ngành triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm phòng ngừa, ứng phó, ngăn chặn hành vi gây ô nhiễm môi trường, nguồn nước; thiết lập vùng bảo hộ vệ sinh và hành lang bảo vệ nguồn nước làm căn cứ xây dựng quy định về sản xuất, kinh doanh, chế biến gắn với bảo vệ môi trường, nguồn nước, nhất là khu vực đầu nguồn nước hang Thẳm Tát Tòng, suối Nậm La và Nậm Pàn. Nhờ đó năm 2018, tình trạng ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt do chế biến cà phê đã cơ bản được ngăn chặn, ở địa bàn Thành phố không còn xảy ra tình trạng ngừng cấp nước sinh hoạt kéo dài như các năm trước.
     
    Cơ sở chế biến quả cà phê xả thẳng nước thải không qua xử lý ra rãnh bên đường ở HTX Hoàng Văn Thụ, xã Hua La (Thành phố).
     
    Nước thải từ chế biến quả cà phê bơm thẳng ra hố đào trên mặt ruộng ở bản Mạt, xã Chiềng Mung (Mai Sơn) 
    Mó nước bản Long Lái, xã Chiềng Mung (Mai Sơn) trước đây chuyên cung cấp nước sinh hoạt cho người dân, nhưng đến nay nước cũng bị đen và có mùi hôi thối.
    Tuy nhiên, theo thông tin từ các cơ quan chức năng, chính vì việc quản lý chặt đầu nguồn nước của Thành phố, các cơ sở chế biến cà phê ở huyện Thuận Châu giảm do không đáp ứng được việc bảo vệ môi trường. Do vậy, việc mua bán, sơ chế quả cà phê lại chuyển về địa bàn huyện Mai Sơn với quy mô và số cơ sở sơ chế cà phê tăng nhiều hơn các năm trước. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến Trạm cấp nước Nà Sản, Xí nghiệp cấp nước Mai Sơn phải ngừng hoạt động 2 lần tính từ tháng 11 đến nay do ô nhiễm nguồn nước. Lần 1 từ ngày 12 đến ngày 13/11; lần 2 từ 5giờ ngày 18/11 đến nay và chưa biết đến khi nào mới cấp nước trở lại do nguồn nước vẫn bị ô nhiễm nặng với mùi hôi khó chịu, chuyển màu vàng, sủi bọt và nổi váng, nguồn nước bị nhiễm bẩn không thể đưa vào xử lý để phục vụ cấp nước sinh hoạt. Việc ô nhiễm nguồn nước đã ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của 2.000 hộ dân trên địa bàn tiểu khu Nà Sản và thị trấn Hát Lót. Công ty cùng xí nghiệp đã khắc phục bằng cách đưa nước từ các nhà máy lân cận để cấp nước được khoảng 1.200 hộ. Hiện còn khoảng 800 hộ dân ở các khu vực cao vẫn chưa có nước.
    Chúng tôi theo đoàn công tác của các cơ quan chức năng đi khảo sát thực tế nơi được cho là đầu nguồn nước ngầm của Trạm cấp nước Nà Sản trong phạm vi khu vực xã Chiềng Mung, Chiềng Ban của huyện Mai Sơn… Qua kiểm tra, có rất nhiều cơ sở chế biến cà phê xả nước thải trực tiếp chưa qua xử lý ra môi trường, thông qua các rãnh thoát nước hoặc đào hố trên mặt ruộng gây ô nhiễm không khí và nguồn nước. Ông Nguyễn Thanh An, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mai Sơn cho biết: Tại các nơi kiểm tra, có hơn 40 cơ sở chế biến cà phê và gần 100 hộ gia đình tự xát quả cà phê để tích trữ chờ được giá mới bán. Để bảo vệ môi trường, ngay từ đầu năm 2019, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mai Sơn đã tham mưu với UBND huyện tăng cường chỉ đạo thực hiện công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường; thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra mức độ gây ô nhiễm môi trường đối với các cơ sở sơ chế, chế biến nông sản; qua kiểm tra đã phát hiện và xử phạt hành chính 13 trường hợp vi phạm, với tổng số tiền 33,5 triệu đồng. Ông An cho biết thêm: Việc xử lý các vi phạm cũng còn gặp khó khăn do các quy định về pháp luật chưa cụ thể; vẫn có hộ dân không chấp hành xử phạt và sau khi xử phạt thì các cơ sở hoặc hộ gia đình chế biến cà phê lại chuyển sang hoạt động vào ban đêm.
    Ông Cầm Văn Thắng, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Mai Sơn, cho biết: Huyện Mai Sơn hiện có 4.650 ha cây cà phê. Năm 2020, tỉnh Sơn La giao cho huyện phát triển diện tích cây cà phê lên 5.000 ha, tập trung ở các xã: Chiềng Mai, Chiềng Chung, Chiềng Dong, Chiềng Kheo, Chiềng Ve, Chiềng Ban và Chiềng Mung. Để bảo vệ môi trường, Phòng Nông nghiệp &PTNT huyện cũng tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng và các địa phương tuyên truyền người dân bán quả cà phê cho các nhà máy và cơ sở chế biến cà phê đáp ứng đủ điều kiện bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, do đầu vụ giá cà phê thấp khoảng 2.500 đồng/kg quả tươi nên bà con không thu hoạch và để đến nay giá đã tăng lên 6.500-7.000 đồng/kg quả tươi, bà con mới thu hoạch đồng loạt để bán, dẫn đến các nhà máy và cơ sở chế biến thực hiện tốt về bảo vệ môi trường không thể thu mua hết sản lượng cà phê trên địa bàn, nên đã xuất hiện các cơ sở chế biến quả cà phê nhỏ lẻ chưa đáp ứng các quy định về môi trường hoạt động.
    Chúng tôi tới Trạm cấp nước Nà Sản, nơi cung cấp nước cho nhà máy là mó nước ngầm chảy ra từ lòng đất có màu đen và mùi khó chịu, trên mặt nước nổi từng mảng bọt màu vàng không đạt tiêu chuẩn cấp nước. Ông Đỗ Quang Phượng, Trưởng phòng quản lý chất lượng, Công ty cổ phần cấp nước Sơn La nói: Do ô nhiễm nguồn nước ngầm nên Nhà máy chưa biết đến khi nào mới hoạt động và cấp nước trở lại. Đặc biệt, hiện nay đang trong mùa khô, lượng mưa ít nên việc khôi phục nguồn nước sạch sẽ gặp khó khăn, vì vậy, các cơ quan chức năng và địa phương cần nhanh chóng đưa ra các giải pháp xử lý triệt để về bảo vệ môi trường để nhà máy sớm hoạt động trở lại.
    Nguồn nước ngầm cung cấp cho Trạm cấp nước Nà Sản (Mai Sơn) bị ô nhiễm, nước có màu đen, nổi bọt vàng và có mùi hôi.
    Nước đưa về Trạm cấp nước Nà Sản (Mai Sơn) xử lý nhưng vẫn có màu vàng và sủi bọt, không đảm bảo cho việc cấp nước trở lại.
    Giải pháp bảo vệ nguồn nước
    Hiện nay, diện tích cây cà phê trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 17.000 ha, chủ yếu tập trung tại các huyện: Thuận Châu, Mai Sơn và thành phố Sơn La. Ngoài những cơ sở sơ chế, chế biến lớn, trên địa bàn các huyện còn có nhiều cơ sở nhỏ lẻ, quy mô hộ gia đình, cá nhân. Hầu hết, các cơ sở sơ chế, chế biến nông sản quy mô hộ gia đình không xây dựng công trình xử lý nước thải hoặc có nhưng không đảm bảo quy định về môi trường. Để chủ động bảo vệ môi trường trong các vụ thu hoạch, sơ chế cà phê, các cơ quan chức năng và các huyện, thành phố đã tích cực tuyên truyền, hướng dẫn bảo vệ môi trường và biện pháp xử lý chất thải trong sơ chế nông sản quy mô cụm xã; thành lập đoàn liên ngành thực hiện phòng ngừa, kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý  các cơ sở sơ chế, chế biến cà phê trên địa bàn. Tuy nhiên, việc ô nhiễm môi trường do nước thải từ chế biến cà phê vẫn lặp đi lặp lại.
    Để giải quyết tình trạng về ô nhiễm trong sơ chế cà phê, làm ảnh hưởng đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt ở huyện Mai Sơn, UBND tỉnh cần chỉ đạo dừng ngay các cơ sở chế biến cà phê chưa đáp ứng các điều kiện đảm bảo môi trường. Về lâu dài, UBND tỉnh cần giao cho Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu đề tài “Xử lý nước thải trong chế biến cà phê quy mô hộ gia đình với chi phí thấp” để các hộ dân có thể áp dụng trong sản xuất và bảo vệ môi trường. Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan chức năng và các địa phương khẩn trương rà soát phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước sinh hoạt của các nhà máy cấp nước ở các huyện, thành phố để cắm biển cảnh báo và nghiêm cấm các cơ sở sản xuất, chế biến nông sản không đủ điều kiện bảo vệ môi trường hoạt động. Tiếp tục chỉ đạo các cấp, các ngành tăng cường tuyên truyền, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân; hướng dẫn các cơ sở khẩn trương hoàn thiện các công trình xử lý chất thải, bảo vệ môi trường; đẩy mạnh thanh, kiểm tra, xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm, không chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước.
     
  • Hiệu suất sử dụng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu công nghiệp đạt thấp

    Hiệu suất sử dụng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu công nghiệp đạt thấp
    Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác bảo vệ môi trường, cụ thể là xử lý nước thải, tại các khu công nghiệp đã cơ bản đầy đủ; công tác phát triển hạ tầng hệ thống xử lý nước thải, chất thải của các khu, cụm công nghiệp, có kết nối trực tuyến với cơ quan quản lý môi trường cơ bản đạt yêu cầu. Tuy nhiên, hiệu suất sử dụng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu công nghiệp mới chỉ đạt 48%.
    Theo số liệu thống kê của mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT), hiện nay cả nước có 274 KCN đang hoạt động, trong đó có 242 KCN đã hoàn thành việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, đạt tỷ lệ 88,3%.
    Tổng công suất của các nhà máy xử lý nước thải đang hoạt động đạt hơn 951.330 m3/ngày - đêm, với công suất trung bình mỗi nhà máy đang hoạt động đạt 4.000 m3/ngày - đêm, trong đó, công suất nhỏ nhất là 200 m3/ngày - đêm (tại KCN Cơ khí ô tô - Thành phố Hồ Chí Minh) và lớn nhất là 50.000 m3/ngày đêm (tại KCN Yên Bình, tỉnh Thái Nguyên).

    Bộ TN-MT sẽ rà soát lại các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, xác định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước và quản trị môi trường của chủ đầu tư, doanh nghiệp
    Cũng theo số liệu của Bộ TN-MT, tổng lượng nước thải thực tế của các KCN trên cả nước là 635.000 m3/ngày - đêm còn lượng nước thải được thu gom, xử lý tại các hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi xả ra môi trường là 450.000 m3/ngày đêm, chiếm 71% lượng nước thải phát sinh. Còn lượng nước thải do các cơ sở tách đấu nối, tự xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trước khi xả ra môi trường hoặc chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý là 185.000 m3/ngày - đêm, chiếm 29%.
    Trong tổng số 274 KCN đang hoạt động thì các KCN tại khu vực Đông Nam Bộ có tỷ lệ phát sinh nước thải cao nhất nước (chiếm 50%), song do thực hiện nghiêm các quy định về đầu tư xây dựng, vận hành hệ thống xử lý nên tỷ lệ nước thải được thu gom, xử lý tại hệ thống xử lý nước thải tập trung trong các KCN ở khu vực này đạt cao nhất cả nước (chiếm khoảng 90%).
    Trên cơ sở tính toán số liệu tổng lượng nước thải phát sinh hàng ngày và công suất xử lý của hệ thống xử lý nước thải tập trung thì hiệu suất sử dụng của các hệ thống xử lý nước thải tập trung trên toàn quốc là 48%.
    Về công tác kết nối trực tuyến với cơ quan quản lý môi trường của các hệ thống xử lý nước thải tập trung, Bộ TN-MT cho biết, trong số 242 KCN đã hoàn thành xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, có 191 KCN đã lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động, liên tục, chiếm 78,9%, 51 KCN còn lại đang trong lộ trình lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động, chiếm 11,1%.
    Các địa phương, như: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Bắc Ninh là những địa phương đi đầu với 100% KCN có lắp đặt thiết bị quan trắc tự động và truyền dữ liệu về Sở TN-MT kiểm soát. Đặc biệt, TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai đã chủ động lắp đặt thiết bị quan trắc tự động đồng bộ do Sở TN-MT quản lý tại các nguồn thải có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao trong đó có KCN để kiểm soát.
    Dù về cơ bản các KCN trong cả nước đã đầu tư xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trong, song theo đánh giá của Bộ TN-MT, việc thực hiện quy hoạch xây dựng của các KCN, đặc biệt là xây dựng hạ tầng KCN chưa được các địa phương nghiêm túc thực hiện.
    Hiện vẫn còn tồn tại 32 KCN dù đã đưa vào hoạt động nhưng chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Hơn nữa, số lượng các KCN đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, đã đi vào hoạt động nhưng chưa hoàn thiện thủ tục xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường còn cao.
    Vần còn tình trạng một số địa phương chỉ tập trung thu hút đầu tư, song thiếu đôn đốc, kiểm tra, tăng cường chỉ đạo các chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN đẩy nhanh tiến độ xây dựng và đưa vào vận hành kịp thời hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN. Chưa giám sát chặt chẽ việc xả nước thải của các KCN gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, đặc biệt là nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt phía ngoài hàng rào KCN.
    Cá biệt, có địa phương phát triển “nóng” các KCN mà chưa tính đến nhu cầu thị trường dẫn đến hậu quả là các KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung và chưa làm thủ tục xác nhận hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường chủ yếu vì thu hút được rất ít các dự án đầu tư hoạt động trong KCN.
    Để chấn chỉnh tình trạng này, trong thời gian tới, Bộ TN-MT sẽ rà soát lại các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó tập trung vào các chính sách lớn, như: phân luồng, phân nhóm các dự án đầu tư, cơ sở sản xuất theo mức độ tác động đến môi trường để có biện pháp quản lý môi trường phù hợp.
    Bộ cũng sẽ thực hiện phân vùng môi trường và có cơ chế sàng lọc các dự án đầu tư dựa trên các tiêu chí môi trường, xây dựng cơ chế quản lý môi trường theo các giai đoạn của vòng đời dự án. Đồng thời xác định rõ trách nhiệm quản lý về môi trường của nhà nước và quản trị môi trường của chủ đầu tư, doanh nghiệp.
    Bộ TN-MT cũng sẽ đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn về môi trường theo hướng hội nhập và đảm bảo chất lượng môi trường ngày càng cao, xây dựng các quy định về quản lý chất thải rắn, nước thải theo hướng phù hợp với tình hình phát sinh và bối cảnh kinh tế - xã hội và thực hiện điều chỉnh đối tượng ưu đãi, hỗ trợ phù hợp hơn theo hướng bổ sung thêm đối tượng được hưởng các ưu đãi khi xây dựng hệ thống xử lý nước thải công nghiệp không tập trung tại các KCN.
     
  • Năm 2020: Quyết liệt kiểm soát ô nhiễm môi trường

    Năm 2020: Quyết liệt kiểm soát ô nhiễm môi trường
    Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2019 và phương hướng nhiệm vụ năm 2020, Tổng Cục môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho rằng, nhiễm môi trường vẫn còn diễn biến phức tạp, nhất là ô nhiễm không khí. Thực tế này đòi hỏi năm 2020 cần có những hành động quyết liệt, kiểm soát chặt chẽ nguồn xả thải, xử lý nghiêm các vi phạm.
    Còn tư tưởng ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, xem nhẹ yêu cầu bảo vệ môi trường

    Theo thông tin từ Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), trong năm 2019, ô nhiễm môi trường diễn biến phức tạp. Ô nhiễm không khí đang ngày trở nên nghiêm trọng, đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh có xu hướng "xấu" hơn với sự gia tăng các nguồn thải gây ô nhiễm.Đáng chú ý, chỉ số chất lượng không khí (AQI) có thời điểm vượt ngưỡng an toàn, nguy hại tới sức khỏe người dân, nhất là bụi mịn PM2.5.
    Theo báo cáo của Tổng cục Môi trường, lượng chất thải được thải ra môi trường đang ngày càng tăng. Trong khi đó, công tác quản lý rác thải sinh hoạt hiện nay còn nhiều hạn chế, phần lớn được xử lý theo hình thức chôn lấp. Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được giảm thiểu hoặc tái chế tại các cơ sở xử lý chưa cao.
    Cùng với chất thải rắn và ô nhiễm không khí, nước thải cũng là điều đáng lo. Báo cáo của Tổng cục Môi trường cho thấy nước thải đô thị phát sinh ngày càng lớn, hầu hết chưa qua xử lý, mà xả ra môi trường gây ô nhiễm nguồn nước mặt trong các đô thị, khu dân cư; hạ tầng thu gom, xử lý chưa đáp ứng yêu cầu.
    Đáng chú ý, vẫn còn nhiều cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa được xử lý triệt để, nhiều cơ sở công nghiệp nằm xen lẫn trong khu dân cư chậm được di dời. Chất lượng và tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng tiếp tục suy giảm.
    Người dân "kín từ đầu đến chân" khi ra đường trước tình trạng ô nhiễm không khí ngày càng nghiêm trọng
    Theo Tổng cục Môi trường, nguyên nhân dẫn đến những tồn tại nêu trên chưa được xử lý triệt để là do vẫn còn tư tưởng ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư bằn mọi giá, xem nhẹ yêu cầu bảo vệ môi trường.
    Quan điểm không đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế chưa được thực hiện triệt để. Ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường của người dân và doanh nghiệp còn nhiều hạn chế; việc thực thi công tác bảo vệ môi trường hiệu quả chưa cao.
    Bên cạnh đó, hệ thống chính sách pháp luật liên quan đến công tác bảo vệ môi trường còn chồng chéo, bất cập, chưa theo kịp những diễn biến nhanh của các vấn đề môi trường và yêu cầu hội nhập quốc tế. Trong khi đó, việc tổ chức thực hiện còn yếu kém, nhất là cấp địa phương, cơ sở, kể cả cấp độ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và quản trị môi trường ở các khu kinh tế, khu công nghiệp, làng nghề. Các dự án thuộc loại hình sản xuất có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường vẫn còn xu hướng đầu tư vào Việt Nam. Năng lực phòng ngừa, ứng phó với các sự cố môi trường của các doanh nghiệp ở một số địa phương còn nhiều bất cập.
    Kiên quyết xử lý mạnh các hành vi gây ô nhiễm môi trường
    Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Võ Tuấn Nhân nhấn mạnh, năm 2020,Tổng cục Môi trường sẽ có những hành động quyết liệt, những giải pháp mang tính đột phá để đạt được các mục tiêu đề ra. Đó là kết hợp công tác bảo vệ môi trường hài hòa với phát triển kinh tế - xã hội; kiểm soát chặt chẽ nguồn xả thải; giảm thiểu rác thải nhựa; thu gom, tái chế chất thải rắn; xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường; khuyến khích, thúc đẩy ngành công nghiệp môi trường; từng bước xây dựng nền kinh tế tuần hoàn... Hướng tới việc kiểm soát chặt chẽ về môi trường đối với các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, rà soát kiên quyết yêu cầu chủ đầu tư các khu công nghiệp, cụm công nghiệp xây dựng, vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung; yêu cầu các đối tượng có quy mô xả thải lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải, khí thải tự động liên tục, truyền số liệu trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường theo quy định.
    "Gánh nặng" về ô nhiễm môi trường sẽ tiếp tục bị đẩy sang năm 2010
    Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường; rà soát, điều chỉnh, xây dựng mới các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, kiên quyết xử lý nghiêm đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường; tăng cường cơ chế giám sát về bảo vệ môi trường đối với các dự án, cơ sở sản xuất có nguy cơ gây sự cố, ô nhiễm môi trường cao, bảo đảm không để xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng, các dự án vận hành an toàn.
    "Đặc biệt, Tổng cục Môi trường sẽ đẩy mạnh các giải pháp bảo vệ, cải thiện chất lượng môi trường không khí tại các đô thị lớn, nhất là thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; trong đó tập trung rà soát, đánh giá tình hình, kết quả thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường không khí và kế hoạch hành động quốc gia quản lý chất lượng không khí đến năm 2020, tầm nhìn đến 2025. Tăng cường quan trắc, giám sát chặt chẽ diễn biến chất lượng không khí trong các đô thị lớn, kết nối số liệu quan trắc Trung ương và địa phương để cung cấp thông tin kịp thời cho người dân và có các giải pháp ứng phó phù hợp, hiệu quả" Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nhấn mạnh.
     
  • Tương lai của nước tái chế

    Tương lai của nước tái chế
    Gia tăng dân số, ô nhiễm môi trườngbiến đổi khí hậu đang khiến nguồn nước uống trở nên khan hiếm, đòi hỏi các đô thị tìm kiếm thêm những nguồn nước bổ trợ. Và “nước tái chế” đang trở thành lựa chọn tối ưu tại nhiều khu vực trên thế giới.
    Một trong năm nhà máy “tái chế” nước tại Singapore, chịu trách nhiệm cung cấp 40% nguồn nước uống và sinh hoạt của người dân tại Đảo quốc Sư tử. Nguồn: Roslan Rahman/AFP/Getty. 
    Hơn hai tỉ người trên thế giới đang sống trong tình trạng thiếu nước trầm trọng – chủ yếu tại các quốc gia Bắc Phi; Tây, Trung và Nam Á. Theo dự đoán, dân số thế giới sẽ tăng lên từ 7,7 tỉ lên 10 tỉ vào năm 2020, với 70% phân bố tại các đô thị. Theo một đánh giá của Liên hợp quốc, nhu cầu sử dụng nước dự kiến sẽ tăng từ 20-30% từ nay cho đến năm 2050. 
    Vì vậy, việc tái chế nguồn nước thải thành nước sinh hoạt đang trở thành một lựa chọn khả thi. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông và tâm lý sử dụng nước “thải”, nhiều người vẫn lo lắng về độ an toàn của nước tái chế, dẫn đến một số dự án bị trì hoãn.
     
    Vậy nước tái chế có thực sự đáng lo ngại?
    Khái niệm “nước tái chế” dùng để chỉ nguồn nước nước thải qua quy trình xử lý nghiêm ngặt trở thành nước sinh hoạt. Tại các quốc gia có thu nhập trung đến cao, nước sinh hoạt – từ các hộ gia đình và hộ kinh doanh, không bao gồm nước thải công nghiệp – được thu thập tập trung và xử lý tại các nhà máy rồi thải ra sông, hồ và các nguồn nước tự nhiên. Sau đó, nguồn “nước thô” (raw water) sẽ được thu thập xử lý lần nữa và đưa vào sử dụng tại các đô thị ở hạ nguồn với nhiều mục đích, từ sinh hoạt, nông nghiệp, tưới tiêu đến các quy trình công nghiệp.
    Để đảm bảo nguồn nước đủ điều kiện trở thành nước uống, nhiều nơi sau khi xử lý lần một tại nhà máy sẽ luân chuyển nước tới nhà máy thứ hai, thứ ba để xử lý chuyên sâu bằng các phương pháp hóa học, sinh học và vật lý. Số nước này sau đó được đưa thẳng vào hệ thống cấp nước uống hoặc nguồn chứa nước tự nhiên (sông, hồ, đập, nước ngầm). Dù được xử lý từ nguồn tự nhiên hay nhân tạo, nước đã được xử lý theo nhiều bước như trên đều được gọi chung là nước tái chế. 
    Tại nhiều khu vực trên thế giới, nguồn nước thải thường chỉ được xử lý một lần rồi thải ra và chiếm tỉ lệ lớn trong lưu vực nước sông. Dù trên thực tế, tại một số nước, các phương pháp xử lý nước thải ở hạ nguồn (sông) vẫn chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng nước thô, giới chức các nước này vẫn coi đó là nguồn “nước sạch từ tự nhiên”. Điều này hẳn nhiên đe dọa đến sức khỏe của người dân, song việc nâng cao tiêu chuẩn xử lý nước thải trong môi trường được kiểm soát và phân loại mục đích sử dụng rõ ràng hoàn toàn có thể giải quyết được vấn đề này. 
    Trên hết, việc quản lý và nâng cấp cơ sở hạ tầng với các công nghệ và cảm biến thông minh vẫn đóng vai trò tối quan trọng. Các công cụ kinh tế, chẳng hạn như quy định giá cũng đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả sử dụng nước tái chế. Bên cạnh đó, các chính sách cũng cần được áp dụng hợp lý nhằm hạn chế ô nhiễm, đồng thời đào tạo các bên liên quan về tầm quan trọng của việc lưu trữ nước.
     
    Quan điểm công chúng 
    Sự phản đối từ một bộ phận người dân đã khiến một số dự án cung cấp nước tái chế bị trì hoãn trong suốt hai thập kỉ qua. 
    Năm 2000, nhật báo Los Angeles đưa tin về dự án Tái chế Nước East Valley, bắt đầu được thực hiện ở San Fernando Valley, Los Angeles, California, vào năm 1995 với tiêu đề “Biến nước toilet thành nước máy”. Tin tức này đối mặt với phản ứng lo ngại từ người dân địa phương cho rằng nguồn nước tái chế sẽ chỉ cung cấp cho những khu vực của người thu nhập thấp và sẽ không an toàn để sử dụng. Dự án này đã được các ứng cử viên thị trưởng địa phương đem ra thảo luận và bị Ủy ban phụ trách Nguồn nước và Năng lượng Los Angeles quyết định bãi bỏ. Kể từ đó, nước tái chế chỉ được sử dụng trong tưới tiêu và công nghiệp. 
    Năm 2006 và 2009, người dân bang Queensland, Australia đã phản đối thành công hai Chương trình Tái chế Nước tại Toowoomba và Hành lang Phía Tây vùng đông nam Queensland, kể cả khi đất nước chuột túi đang hứng chịu hạn hán kỉ lục. 
    Công nhân bơm nước vào bể chứa nước uống tại Queensland, Australia trong thời điểm hạn hán kỉ lục. Ảnh William West/AFP/Getty
    Những hoài nghi về độ an toàn của nước tái chế, thực chất, đến nay, vẫn chưa hoàn toàn dịu lại. Tại Mỹ và Canada, vẫn có một số nhóm dân cư chưa được cung cấp nguồn nước uống an toàn – đặc biệt là các cộng đồng thiểu số và người có thu nhập thấp. Đa phần nguồn nước tại những nơi này chứa hàm lượng chì cao hơn ngưỡng an toàn được quy định. Tháng 10 năm ngoái, kết quả xét nghiệm gần 300 mẫu nước từ giếng và một số nguồn nước tại California phát hiện hàm lượng các hóa chất PFAS có liên quan tới một số loại bệnh, bao gồm ung thư. 
    Dù vậy, cho đến hiện tại, nước uống tái chế vẫn buộc phải tuân theo những tiêu chuẩn quản lý, đánh giá và kiểm định nghiêm ngặt hơn hẳn nước sinh hoạt bình thường.
     
    Cải thiện hình ảnh nước tái chế
    Các chuyên gia đề xuất 3 biện pháp nhằm cải thiện hình ảnh của nước tái chế, bao gồm: 
    1. Tăng cường nghiên cứu 
    Nước thải chưa qua xử lý có thể chứa đến hàng trăm loại hóa chất và mầm bệnh khác nhau và nếu không được xử lý đúng cách sẽ thành nguồn bệnh, chẳng hạn như bệnh tả, thương hàn và gây vô số ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người. Đó là chưa tính tới các loại hóa chất và chủng vi khuẩn, vi rút mới hoặc chưa được phát hiện. Do đó, các cơ quan kiểm định và cơ sở nghiên cứu cần tăng cường nghiên cứu, định lượng và hạn chế các nguy cơ mới, bên cạnh việc liên tục đánh giá phí tổn và lợi ích tổng quát của nguồn nước tái chế với sức khỏe con người và môi trường. 
    Việc áp đặt các tiêu chuẩn an toàn cấp quốc gia, địa phương và cơ sở cho nguồn nước uống tại các quốc gia có mức thu nhập từ trung bình đến cao là không thể thiếu. Đến nay, các cơ sở cung cấp nước tại các đô thị sử dụng nước tái chế phần lớn đều đáp ứng được các tiêu chuẩn về kiểm soát mầm bệnh, hóa chất và tạp chất trên nhờ cơ chế xử lý đa tầng, kiểm soát theo thời gian thực và các chiến lược quản lý rủi ro đa dạng trong suốt quy trình xử lý và phân phối nước. 
    2. Làm đẹp hình ảnh trong mắt công chúng 
    Để đạt được điều này, các công ty cung cấp nước cần xây dựng các phương án lan tỏa thông tin, tư vấn, giáo dục và tương tác cộng đồng. Chiều lòng công chúng hiển nhiên không phải là phương tiện để các dự án tái chế được thực hiện suôn sẻ, song vẫn là bước đệm quan trọng để các dự án có thể lắng nghe giải quyết được lo ngại từ phía người dân và đạt được mục tiêu ban đầu đề ra, kể cả khi bắt buộc phải thay đổi dự án. 
    Một ví dụ điển hình là dự án tái chế nước được đề xuất bởi thành phố San Diego, California nhằm hạn chế sự phụ thuộc vào nguồn nước từ sông Colorado. Những người ủng hộ ban đầu nhanh chóng quay lưng lại với dự án do nhiều nguyên nhân, bao gồm sự thiếu nhất quán trong cung cấp thông tin an toàn từ phía chuyên gia và sự thổi phồng của báo chí với những tít như “nước bồn cầu thành nước uống”, hay “đồ uống từ nước thải” và ý kiến cho rằng nguồn nước này chỉ dành cho cộng đồng dân cư thu nhập thấp. Kết quả, năm 1999, Hội đồng thành phố đã liệt nguồn nước tái chế vào danh mục “nước không uống được”. 
    Nhưng nhu cầu nước uống của San Diego là vẫn còn và không thể làm ngơ. Bởi vậy, năm 2004, công ty cấp nước công đã thực hiện các chiến dịch giáo dục và quan hệ công chúng với các phương thức tiếp cận đa dạng như khảo sát online và qua điện thoại, nghiên cứu trên các nhóm tập trung, tạo cơ hội trao đổi giữa người dân và các tổ chức tình nguyện địa phương và xây dựng website chuyên cung cấp thông tin. 
    Những nỗ lực trên đã thu về quả ngọt khi tỉ lệ đồng thuận của người dân tăng từ 26% lên 73% trong 8 năm từ 2004 đến 2012 và dự án tái chế nước được cấp phép vào năm 2013. Dự kiến đến năm 2023, nhà máy xử lý nước sẽ đạt công suất 114.000 m3 nước uống mỗi ngày và chiếm 1/3 nguồn cung nước cho thành phố vào 2035.
    3. Nhắm vào các khu vực có nhu cầu lớn
    Theo đó, các công ty cấp nước bắt tay vào thực hiện các dự án tái chế nước tại những nơi có nhu cầu lớn nhất, với cơ sở vững chắc về kiến thức, kỹ thuật, trình độ nhân viên và năng lực tài chính, cũng như tuân thủ hành lang quy định chất lượng nghiêm ngặt của địa phương.
    Nếu chứng minh được độ an toàn và hiệu quả ở những khu vực đó, người dân các khu vực khác có thể sẽ cởi mở hơn với các dự án tương tự tại cộng đồng của chính họ.
     
    Chìa khóa thành công
    Chìa khóa thực hiện hiệu quả các chiến lược này bao gồm nỗ lực phối hợp không ngừng nghỉ từ tất cả các bên liên quan - từ hệ thống quản lý địa phương đến trung ương, cơ sở y tế, doanh nghiệp, các tổ chức cộng đồng và môi trường cho đến các phương tiện tôn giáo và truyền thông. 
    Ba ví dụ áp dụng thành công nhất về hệ thống nước tái chế chính là ba trung tâm kinh tế trọng điểm - Singapore, Windhoek (Namibia) và Quận Cam (California). Trên thực tế, nếu không có các dự án tái chế nước, chính các khu vực này cũng sẽ phải đối mặt với những ảnh hưởng kinh tế, xã hội nghiêm trọng. 
    Bên cạnh đó, nước tái chế còn giúp cải thiện chất lượng nước tại các nguồn từ nhiên như ao, hồ, sông, suối, đập hay tầng nước ngầm nó đi qua nhờ chất lượng vượt hơn hẳn nước thải được xử lý theo quy trình thông thường.
     
  • Xử lý triệt để tình trạng ô nhiễm nước thải

    Xử lý triệt để tình trạng ô nhiễm nước thải
    Mỗi ngày, các doanh nghiệp, hộ dân sinh sống trên địa bàn TP Hà Nội thải ra khoảng 900 nghìn mét khối nước thải sinh hoạt, trong đó chỉ có khoảng 23% được đưa vào xử lý tại các nhà máy xử lý nước thải, còn lại xả trực tiếp ra các kênh mương, hồ ao, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

    Hình ảnh hệ thống xử lý nước thải Yên Xá đang xây dựng
    Trong đó, riêng sông Tô Lịch trung bình mỗi ngày phải tiếp nhận khoảng 150 nghìn mét khối nước thải sinh hoạt, tương đương một phần sáu tổng lượng nước thải của thành phố và hàng nghìn mét khối nước thải công nghiệp, nước thải từ các làng nghề,… chưa qua xử lý, khiến cho dòng sông ngày càng ô nhiễm. Nước sông chứa nhiều loại vi-rút, vi khuẩn nguy hại, cộng với bùn thải đặc quánh, tạo nên mùi hôi thối nồng nặc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống, sức khỏe của người dân sinh sống khu vực chung quanh.
    Ðể giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường, giúp sông Tô Lịch hồi sinh, UBND thành phố Hà Nội và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA Việt Nam) đã triển khai dự án xây dựng Hệ thống xử lý nước thải Yên Xá, bao gồm xây dựng một nhà máy xử lý nước thải công suất 270 nghìn mét khối/ngày đêm trên địa bàn huyện Thanh Trì và hệ thống cống thu gom, đấu nối đường kính từ 400 mm đến 2.400 mm, dài khoảng 52,6 km dọc bờ sông Tô Lịch, sông Lừ và một phần khu vực quận Hà Ðông. Tổng mức đầu tư dự án hơn 16 nghìn tỷ đồng. Thời gian hoàn thành dự án ban đầu dự kiến vào năm 2022, nhưng dự án đã gặp không ít khó khăn, vướng mắc trong quá trình chuẩn bị đầu tư.
    UBND thành phố Hà Nội cùng với JICA đã chỉ đạo chủ đầu tư vượt qua khó khăn, vướng mắc để thực hiện dự án. Ðến nay, gói thầu số 1 xây dựng nhà máy đã được khởi công và đang thực hiện đúng tiến độ; gói thầu số 2 xây dựng hệ thống cống bao cho sông Tô Lịch và cống chính dự kiến khởi công cuối quý I năm nay; gói thầu số 3 xây dựng hệ thống cống bao sông Lừ đang trong quá trình chuẩn bị thi công; gói thầu số 4 xây dựng hệ thống cống cho một phần khu vực quận Hà Ðông đã khởi công đầu tháng 12-2019. Tuy nhiên, thời gian không còn nhiều, trong khi mặt bằng thi công dự án trải dài ở nhiều quận, huyện và thời tiết diễn biến phức tạp, khó lường có khả năng ảnh hưởng đến tiến độ dự án.
    Ðể dự án đạt tiến độ đề ra, UBND thành phố cần chỉ đạo Ban Quản lý Dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước, thoát nước và môi trường TP Hà Nội tăng cường kết nối, phối hợp nhịp nhàng giữa các nhà thầu để triển khai thi công đồng bộ các hạng mục, tránh tình trạng chồng chéo công việc, các hạng mục phải chờ đợi nhau, làm chậm tiến độ của cả dự án. Ðôn đốc các nhà thầu tăng cường phương tiện máy móc, nhân lực và có phương án thi công phù hợp để triển khai thi công các hạng mục nhanh chóng, bảo đảm chất lượng, nhất là phần thi công tuyến cống thu gom nước thải. Ðồng thời, các sở: Xây dựng, Giao thông vận tải cần có phương án chỉnh trang, cải tạo đường dạo ven sông ngay sau khi đưa dự án vào hoạt động để tạo cảnh quan môi trường đô thị, vừa để nâng cao hiệu quả dự án.
     
  • TP.HCM: Mạnh tay với doanh nghiệp xả lén nước thải vào môi trường

    TP.HCM: Mạnh tay với doanh nghiệp xả lén nước thải vào môi trường
    TP chỉ đạo giám sát chất lượng chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất của các doanh nghiệp, xử lý nghiêm các trường hợp xả lén nước thải không qua xử lý vào môi trường.
    UBND TP.HCM vừa chỉ đạo các sở, ngành liên quan và UBND 24 quận, huyện thực hiện kiến nghị của Đoàn đại biểu Quốc hội TP về thực hiện chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao trên địa bàn TP giai đoạn 2016 – 2018.
    Theo đó, UBND TP chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp tập trung thực hiện quy chế phối hợp được ký giữa Sở Tài nguyên và Môi trường và Ban quản lý khu chế xuất và Công nghiệp về quản lý nhà nước về lĩnh vực bảo vệ môi trường trong các khu chế xuất và khu công nghiệp trên địa bàn TP.
    Cụ thể, tăng cường hiệu quả phối hợp trong công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm bảo vệ môi trường tại các khu chế xuất và công nghiệp giữa Ban quản lý các khu chế xuất và Công nghiệp, Sở Tài nguyên và Môi trường, Công an TP và UBND quận, huyện; giám sát chặt chẽ chất lượng chất thải, khí thải phát sinh trong quá trình sản xuất của các doanh nghiệp và xử lý nghiêm các trường hợp xả lén nước thải không qua xử lý vào môi trường.
    Cùng với đó, tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bố trí đủ nguồn kinh phí, nhân lực cho công tác bảo vệ môi trường; ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung phục vụ công tác quản lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường.
    Mặt khác, Sở Tài nguyên và Môi trường có cơ chế chia sẻ kết quả quan trắc tự động chất lượng nước thải, khí thải cho các cơ quan đơn vị có liên quan để xử lý kịp thời tình trạng gây ô nhiễm môi trường, không để ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư. Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban quản lý các khu chế xuất và Công nghiệp thường xuyên, định kỳ chủ trì kiểm tra công tác bảo vệ môi trường, xử lý các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp, các doanh nghiệp phát triển hạ tầng khu công nghiệp và thông tin kết quả đến UBND quận – huyện để phối hợp trong công tác quản lý nhà nước.
    Ngoài ra, Ban quản lý các khu chế xuất và Công nghiệp có cơ chế phối hợp chặt chẽ với UBND các quận, huyện để giải quyết, xử lý các trường hợp gây ô nhiễm môi trường trong các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn TP.
     
  • Giải “bài toán” ô nhiễm làng nghề tại Ninh Bình

    Giải “bài toán” ô nhiễm làng nghề tại Ninh Bình
    Hiện trên địa bàn tỉnh Ninh Bình có 75 làng nghề được UBND tỉnh Ninh Bình công nhận, nằm trên địa bàn của 8 huyện, thành phố. Trong đó, có 5 làng nghề chế biến, bảo quản nông lâm, thuỷ sản; 58 làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ như: chế tác đá mỹ nghệ, thêu ren, cói, mây tre đan, mộc, gốm sứ; 11 làng nghề gây trồng kinh doanh sinh vật cảnh và 1 làng nghề xây dựng.
    Theo báo cáo của UBND tỉnh Ninh Bình, ô nhiễm môi trường làng nghề có nguy cơ xảy ra tại các làng nghề chế tác đá mỹ nghệ và làng nghề chế biến lương thực, nông sản tại huyện Yên Khánh, Yên Mô và Hoa Lư. Các xã có làng nghề tại địa bàn 3 huyện trên đã lập phương án BVMT làng nghề, trình UBND huyện phê duyệt theo quy định, làm cơ sở để các làng nghề triển khai thực hiện công tác BVMT.
    Ô nhiễm không khí tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh chủ yếu là ô nhiễm bụi và tiếng ồn từ làng nghề chế tác đá mỹ nghệ Ninh Vân. Hiện các cơ sở sản xuất trong làng nghề đã lắp đặt hệ thống hút bụi khu vực sản xuất, đầu tư trang thiết bị dẫn nước đến máy mài, cắt để giảm thiểu bụi.
    Một góc làng nghề chế tác đá mỹ nghệ Ninh Vân
    Đầu tư thiết bị CNC để thay thế người lao động trực tiếp. UBND huyện Hoa Lư đã hỗ trợ dụng cụ bảo hộ lao động cho nhân dân làng nghề và không cho phép thành lập mới các công đoạn sản xuất (như chuẩn bị nguyên liệu, tạo hình sản phẩm, công đoạn sử dụng hoá chất bề mặt) trong khu dân cư. Thành lập CCN Ninh Vân để di dời các cơ sở chế tác đá mỹ nghệ vào sản xuất tập trung tại CCN, giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong khu dân cư.
    Nước thải phát sinh chủ yếu tại 2 làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm là làng nghề bún Yên Ninh, huyện Yên Khánh và làng nghề bún Yên Thịnh, huyện Yên Mô với lưu lượng nước khoảng 3.400 m3/ngày đêm. Hiện làng nghề bún bánh Yên Ninh đã được đầu tư dự án “Xây dựng hệ thống xử lý môi trường làng nghề bún bánh Yên Ninh” với công suất 500 m3/ngày đêm và dự án “Cải tạo, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, xử lý môi trường làng nghề thị trấn Yên Ninh”.
    Các dự án được triển khai xây dựng từ năm 2012 đã cải tạo, nâng cấp toàn bộ hạ tầng kỹ thuật xử lý môi trường cho làng nghề, nước thải được thu gom, xử lý toàn bộ, không còn tình trạng xả nước thải chưa đảm bảo kỹ thuật ra môi trường như trước. Đối với làng nghề bún Yên Thịnh, do chỉ còn 11 hộ tham gia sản xuất nghề bún nên UBND huyện Yên Mô đã yêu cầu 11 hộ thực hiện thu gom, xử lý nước thải đạt quy chuẩn cho phép trước khi thải ra ngoài môi trường.
    Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại như quy mô sản xuất tại nhiều làng nghề nhỏ, khó phát triển vì mặt bằng sản xuất chật hẹp xen kẽ với khu vực sinh hoạt. Các khu sản xuất của làng nghề không tập trung mà nằm rải rác, xen kẽ giữa các hộ dân cư nên việc xây dựng hệ thống thu gom, xử lý chất thải gặp nhiều khó khăn và cần nhiều kinh phí.
    Nước thải tại các làng nghề chưa được xử triệt để là một trong những nhân tố gây ô nhiễm môi trường
    Nguyên nhân là do nếp sống của người chủ sản xuất nhỏ có nguồn gốc nông dân đã ảnh hưởng mạnh tới sản xuất tại làng nghề, làm tăng mức độ ô nhiễm môi trường. Vốn đầu tư của các cơ sở sản xuất tại các làng nghề quá thấp, khó có điều kiện phát triển hoặc đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường. Trình độ người lao động, chủ yếu là lao động thủ công, học nghề, văn hoá thấp, nên hạn chế nhận thức đối với công tác BVMT.
    Cũng theo UBND tỉnh Ninh Bình thì trong thời gian tới, các ngành chuyên môn của tỉnh sẽ tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm tăng cường công tác BVMT làng nghề như tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về công tác BVMT cho nhân dân tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh. Có chính sách hỗ trợ để di chuyển các hộ sản xuất tại các làng nghề có nguy cơ gây ô nhiễm vào các cụm công nghiệp.
     
  • Quản lý, kiểm soát chặt chẽ các loại hình nước thải công nghiệp

    Quản lý, kiểm soát chặt chẽ các loại hình nước thải công nghiệp 
    Thời gian gần đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) đã tập trung nguồn lực quản lý, kiểm soát chặt chẽ loại hình nước thải công nghiệp, đặc biệt là nước thải phát sinh từ các Khu công nghiệp (KCN).
    Cần kiểm soát chặt chẽ các chất thải trong khu, cụm công nghiệp. (Ảnh minh họa)
    Hiện nay, cả nước có 251 KCN đã đi vào hoạt động có phát sinh chất thải (không tăng so với năm 2017). Hoạt động kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các KCN đã có chuyển biến tích cực.
    Trên phạm vi cả nước, đã có 221/251 KCN đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, đạt khoảng 88% (tăng 8% so với năm 2017), trong đó các địa phương có số lượng KCN lớn như TP Hồ Chí Minh, TP Hà Nội, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Long An, Quảng Ninh, Bắc Ninh... tỷ lệ này đều đạt 100%. Đã có 121/251 KCN lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động, liên tục đạt tỷ lệ trên 42%.
    Nhìn chung, nhiều địa phương đã chú trọng lựa chọn, thu hút các dự án công nghệ cao, dự án có tỷ lệ đầu tư về môi trường lớn, một số địa phương đã bước đầu thực hiện việc phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường trong quá trình thu hút đầu tư thông qua việc lựa chọn những ngành nghề, dự án đầu tư có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch.
    Đối với các cơ sở sản xuất, nhà máy riêng lẻ, hầu hết đã và đang được kiểm soát chặt chẽ việc xả nước thải vào nguồn nước thông qua việc quản lý, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường và cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước.
    Tuy nhiên, một thực tế thấy rằng, hiện nay còn chưa kiểm soát được đầy đủ, triệt để các hoạt động gây phát sinh ô nhiễm các dòng sông từ nước thải sinh hoạt, nước thải từ các làng nghề và ô nhiễm từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản.
     
  • Chất lượng không khí Hà Nội xuống thấp, nhiều doanh nghiệp mang tiếng oan.

    Chất lượng không khí Hà Nội xuống thấp, nhiều doanh nghiệp mang tiếng oan.
    Khi chất lượng không khí Hà Nội xuống thấp, nhiều nguyên nhân đã được các cơ quan chức năng truy tìm để minh bạch về các nguồn gây ô nhiễm không khí. Trong số đó, đã có các ý kiến cho rằng các cơ sở sản xuất công nghiệp trong khu vực nội đô là nguyên nhân gây ra tình trạng chất lượng không khí xuống thấp dẫn đến không ít doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật về môi trường bị hàm oan.
    Một trong số các doanh nghiệp đang mang tiếng oan chính là Công ty cổ phần Dệt công nghiệp Hà Nội (Haicatex), doanh nghiệp ngành dệt chuyên sản xuất vải mành lốp xe các loại; vải địa kỹ thuật, vải không dệt. Công ty có cơ sở sản xuất tại số 93 Lĩnh Nam, phường mai Động, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội, diện tích trên 4,4 hecta.
    Không chỉ đến thời điểm này, việc Công ty Haicatex có nhà máy dệt công nghiệp nằm trong khu vực dân cư mới gây sự chú ý mà trước đó nhiều năm, người dân khu vực Lĩnh Nam cũng đã có ý kiến cho rằng, việc Công ty có nhà máy tại khu vực này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng không khí của Thành phố.
    Trao đổi với Báo Pháp luật Việt Nam về vấn đề này, đại diện Công ty Haicatex cho biết, cơ sở sản xuất kinh doanh của Công ty tại số 93 Lĩnh Nam nằm trong khu vực  được UBND TP Hà Nội quy hoạch là khu vực sản xuất, kinh doanh từ những năm 1980 cạnh khu công nghiệp Vĩnh Tuy, trong Khu vực này cũng có nhiều nhà máy sản xuất khác của ngành dệt may Việt Nam.
    Từ những năm 1967 đến thập niên 80 khu vực xung quanh nhà máy không có dân cư sinh sống. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa nhanh chóng của Thủ đô Hà Nội, khu vực xung quanh nhà máy Công ty đã hình thành các khu vực dân cư sống tập trung. Cùng với hạ tầng đô thị phát triển và không gian đô thị, hiện nay xung quanh khu vực nhà máy đã hình thành nhiều khu dân cư và tạo nên hiện trạng nhà máy sản xuất nằm trong khu vực dân cư.
    Về vấn đề hoạt động sản xuất của Công ty có gây ra tác động xấu đến không khí của khu vực nhà máy dệt nói riêng và chất lượng không khí của TP nói chung, Công ty Haicatex cho biết, hoạt động sản xuất của Công ty không ảnh hưởng đến đời sống của người dân, đặc biệt là hoạt động sản xuất không tác động tiêu cực đến môi trường sống do quá trình sản xuất của Công ty không phát thải các chất thải khí, nước thảichất thải công nghiệp ô nhiễm do công ty luôn tuân thủ nghiêm túc đề án BVMT đã được phê duyệt.
    Khuôn viên nhà máy dệt Haicatex rất sạch sẽ
    Cụ thể, sản phẩm đặc thù của Công ty là “sản phẩm vải công nghiệp” không phải vải may mặc như các doanh nghiệp dệt nói chung khác. Hoạt động của các máy dệt chuyên dụng đặc biệt sử dụng nguyên liệu sợi nylon, không có bụi như các máy dệt thông thường sử dụng sợi bông thiên nhiên. Các dây chuyền dệt vải công nghiệp hầu như không phát sinh bụi nhưng đều có các thiết bị hút bụi phát sinh trong quá trình  sản xuất nếu có và thu gom để đảm bảo không phát thải ra môi trường.
    Trong hệ thống thiết bị của nhà máy có lò cấp nhiệt để phục vụ quá trình sấy vải. Lò cấp nhiệt không sử dụng nhiên liệu hóa thạch (than đá) mà sử dụng nhiên liệu tự nhiên là mùn gỗ ép do đó không phát thải khí ô nhiễm ra môi trường. Trong quá trình lò đốt cháy mùn gỗ, khói phát sinh được xử lý qua hệ thống Cyclon và phun nước  để hấp thụ bụi nếu có trước khi đưa ra môi trường  qua đường ống cao 30m.
    Về nước thải, quá trình sản xuất của Công ty không làm phát sinh nước thải công nghiệp, chỉ phát thải nước thải sinh hoạt. Hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt đã được xây dựng theo đúng quy định, đạt chuẩn, đảm bảo nước thải sinh hoạt của công ty đạt tiêu chuẩn xả thải theo quy chuẩn Việt nam hiện hành.
    Đường nội bộ xung quanh các xưởng dệt luôn ở trạng thái không bụi bẩn, sạch sẽ 
     
    Về chất thải rắn, Công ty có hệ thống thu gom chất thải rắn trong khu vực nhà máy và ký hợp đồng với doanh nghiệp có chức năng thu gom, vận chuyển đi xử lý. Do vậy, hoàn toàn không có phát thải ra môi trường.
    “Công ty Haicatex thực hiện đầy đủ nghiêm túc đề án bảo vệ môi trường, đảm bảo không phát thải nguy hại ra môi trường và không gây ô nhiễm môi trường xung quanh nhà máy”, ông Trần Đức Hoàng, đại diện Công ty cho biết.
    Để chứng minh vấn đề này, Công ty Haicatex đã cung cấp những thông tin khá cụ thể về kết quả quan trắc, đánh giá môi trường của cơ quan chức năng.
    Cụ thể, năm 2017, Phòng TN và MT quận Hoàng Mai đã thực hiện việc kiểm tra hoạt động của nhà máy để giải quyết phản ánh của cư dân Tổ dân phố số 56 về việc nghi vấn Công ty phát thải khí thải không đạt chuẩn, gây ô nhiễm môi trường. Kết quả kiểm tra, các chỉ tiêu khí thải đều đạt theo quy định hiện hành.
    Ngày 2/11/2018, UBND quận Hoàng Mai tiếp tục cử đoàn kiểm tra thực hiện việc kiểm tra, đánh giá việc chấp hành pháp luật về môi trường của Công ty. Đoàn kiểm tra đã lấy mẫu nước thải và khí thải để phân tích, đánh giá. Kết quả phân tíchcho thấy, nước thải và khí thải của Công ty đạt chuẩn cho phép theo theo quy định của pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó, quá trình kiểm tra thực tế của các cơ quan chức năng quận Hoàng Mai và TP Hà Nội cũng cho thấy, chất lượng không khí (khí thải), chất lượng nước thải của Công ty đều đạt chuẩn quy định và được phép phát thải vào môi trường, không gây tác động tiêu cực gì đến môi trường xung quanh.
    Lò cấp nhiệt được sử dụng nguyên liệu gỗ sinh khối, không phát thải CO2 như nhiên liệu hóa thạch (than đá)
     
    Công tác kiểm tra cũng làm rõ việc chấp hành của doanh nghiệp theo các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Trong đó, doanh nghiệp có đề án bảo vệ môi trường và các hồ sơ liên quan được lập đầy đủ.
    Trong thời gian vừa qua, chất lượng không khí khu vực Hà Nội liên tục đi xuống, trong đó có nhiều ngày được đánh giá chất lượng không khí rất thấp. Theo kết luận của các cơ quan chức năng, chất lượng không khí xấu đi một phần do những tác nhân nội sinh của đô thị, mặt khác còn có các tác nhân ngoại sinh, từ khu vực các tỉnh xung quanh Hà Nội làm ảnh hưởng đến. Do đó, việc bảo vệ môi trường của Thành phố, cần tìm đúng nguồn gốc của các chất ô nhiễm.
    Để cải thiện chất lượng không khí của của Hà Nội, chính quyền thủ đô cần đến những giải pháp căn cơ hơn, toàn diện hơn. Đối với các cơ sở sản xuất gần “tâm” của TP, đặc biệt là các làng nghề, các cơ sở sản xuất công nghiệp cần thực hiện một cách triệt để các giải pháp bảo vệ môi trường. Những cơ sở còn tồn tại trong nội đô cần được kiểm tra nhiều hơn để đánh giá chính xác về nguy cơ gây ô nhiễm của các doanh nghiệp này, vừa để tạo sự công bằng cho các doanh nghiệp luôn chấp hành pháp luật về môi trường như Công ty Haicatex.
    Một số hình ảnh khác của nhà máy dệt công nghiệp Haicatex tại Lĩnh Nam:
    Hệ thống máy dệt tự động được trang bị máy hút bụi để không phát tán bụi ra không khí
    Các máy xe sợi luôn có hệ thống hút bụi để không lọt bụi ra bên ngoài

    Khu vực chứa phế liệu luôn sạch sẽ

    Máy dệt tự động vắng bóng công nhân, hoạt động được kiểm soát bằng các thiết bị kỹ thuật cao 
     
     
     
  • Cần cơ chế cho thu hút tư nhân đầu tư xử lý nước thải đô thị

    Cần cơ chế cho thu hút tư nhân đầu tư xử lý nước thải đô thị
    Việc thiếu hụt hạ tầng, kỹ thuật xử lý nước thải đang khiến tình trạng ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng. Trong khi đó doanh nghiệp không mặn mà với các dự án xử lý nước thải do khả năng thu hồi chi phí đầu tư xây dựng thấp.
    Tỷ lệ nước thải thu gom mới chỉ 13%
    Chất lượng nước ở Việt Nam suy thoái một cách đáng lo ngại. Trong những năm qua, lượng nước bình quân đầu người ở nước ta giảm khá nhanh. Từ 12.800 m3/người (năm 1990) xuống còn 9.000 m3/người (năm 2015), dự báo giảm xuống còn 8.300 m3/người vào năm 2025. Nếu tính riêng lượng nước nội sinh trong lãnh thổ Việt Nam, lượng nước bình quân chỉ còn 3.000 m3/người vào năm 2025.
    Một trong những nguyên nhân gây nên vấn đề này là do quá trình công nghiệp hóađô thị hóa. Tốc độ đô thị hóa nhanh nhưng chưa có sự đầu tư bài bản vào hệ thống kỹ thuật hạ tầng đô thị nói chung và hệ thống cấp thoát nước đô thị nói riêng dẫn tới tình trạng nước thải đô thị chưa qua xử lý được xả thẳng ra môi trường, đe dọa đến môi sinh và trở thành thách thức lớn cho các đô thị ở Việt Nam.
    Tại Hà Nội, báo cáo của UBND TP cho biết, hiện thành phố đã có 6 nhà máy xử lý nước thải đưa vào hoạt động ( gồm Kim Liên - 3.700 m3/ngày đêm, Trúc Bạch - 2.300 m3/ngày đêm, Bảy Mẫu - 13.300 m3/ngày đêm, Yên Sở - 200.000 m3/ngày đêm, Bắc Thăng Long – Vân Trì - 42.000 m3/ngày đêm và Hồ Tây - 15.000 m3/ ngày đêm). Các nhà máy xử lý nước thải này chỉ xử lý được 22% số lượng nước thải ra hằng ngày, còn tới 78% vẫn đang được xả thẳng ra môi trường.
    Tại TPHCM, ước tính lượng nước thải từ sinh hoạt đô thị phát sinh khoảng 1.579.000 m3/ngày đêm. Nhưng công suất xử lý nước hiện nay của TP chỉ khoảng 302.000 m3/ngày đêm. Nếu tính lượng nước thải được xử lý cục bộ tại khu dân cư mới, chung cư, công nghiệp, thương mại - dịch vụ (không bao gồm nước thải từ khu công nghiệp) thì tổng lượng nước thải thu gom xử lý của toàn thành phố là 370.624 m3/ngày đêm (đạt tỷ lệ 21,2%).
    Việc thiếu hụt hạ tầng kỹ thuật xử lý nước thải, nhiều hệ thống xử lý công nghệ chưa phù hợp đang khiến tình trạng ô nhiễm do nước thải ngày càng gia tăng. Điển hình là dòng chảy qua các thành phố lớn bị ô nhiễm nặng, tình trạng xâm nhập mặn diễn ra ngày càng gay gắt cả trên sông Mê Kông và sông Hồng.
    Thống kê của Bộ Xây dựng cho biết, cả nước hiện có 43 nhà máy xử lý nước thải đô thị tập trung đi vào vận hành với tổng công suất thiết kế trên 926.000 m3/ngày đêm. Tuy nhiên tỷ lệ nước thải được thu gom và xử lý chỉ đạt khoảng 13%.
    Hiện các địa phương, đặc biệt là các đô thị lớn đã và đang quy hoạch và triển khai xây dựng các nhà máy xử lý nước thải đô thị tập trung. Dự kiến từ nay đến năm 2030 sẽ có khoảng 51 nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tại các đô thị từ loại 3 trở lên sẽ được xây dựng, với công suất hơn 4 triệu m3/ngày đêm.
    Doanh nghiệp ngại
    Mặc dù chương trình cải cách toàn diện về xử lý nước thải đã được thông qua năm 2007 bằng Nghị định 88/2007, tuy nhiêm ô nhiễm vẫn có xu hướng gia tăng.
    Số liệu từ ngân hàng Thế giới (World Bank - WB) cho biết, mặc dù 60% hộ gia đình Việt Nam đấu nối xả nước thải vào hệ thống thoát nước công cộng nhưng hầu hết nước thải được xả thẳng ra hệ thống tiêu thoát nước bề mặt và chỉ có 10% lượng nước thải được xử lý và chỉ 4% lượng phân bùn được xử lý.
    Ông Cao Lại Quang, Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam, đánh giá hệ thống thoát nước, xử lý nước thải tại nước ta hiện thiếu đồng bộ, chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa. Tỷ lệ nước thải được xử lý còn thấp, phần lớn lượng nước thải chưa qua xử lý đang thải trực tiếp ra môi trường hoặc qua xử lý nhưng không đạt yêu cầu, khiến tình trạng ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng.
    Trong khi đó, việc tái sử dụng nước thải đô thị có khả năng làm giảm áp lực về tài nguyên nước của TPHCM về mức “căng thẳng thấp” vào năm 2030. Đây là việc có giá trị, nhưng vấn đề đặt ra làm thế nào để hiện thực hóa và cần sửa đổi quy định như thế nào. Tương tự, xử lý nước thải từ các cụm công nghiệp dọc sông Nhuệ- Đáy gần Hà Nội có thể cải thiện đáng kể chất lượng nước mặt, nhưng một lần nữa các lợi ích cần phải được chi trả.
    Theo dự báo của Bộ Xây dựng, thị trường xử lý nước thải tại của Việt Nam tới năm 2025 sẽ cần khoảng 10 tỷ USD, gồm 3,3 tỷ USD để cải thiện hệ thống xử lý nước hiện hữu và 6,9 tỷ USD để đầu tư thêm các nhà máy mới.
    Rõ ràng đây là một thị trường đầy tiềm năng đối với các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp tư nhân có đủ tiềm lực. Tuy nhiên, thực tế hiện nay hầu hết các dự án xử lý nước thải sinh hoạt đang do các cơ quan nhà nước đầu tư xây lắp và vận hành. Điều này khó tránh khỏi các nhà máy này bị hạn chế tự chủ trong hoạt động quản lý vận hành và phát triển hệ thống.
    Nguyên nhân giới đầu tư tư nhân chưa mặn mà mới thị trường xử lý nước thải, theo ông Nguyễn Công Thành - cố vấn kỹ thuật của Tổ chức hợp tác quốc tế Đức (GIZ), là do khả năng thu hồi chi phí đầu tư xây dựng thấp do đơn giá nước sạch và xử lý nước thải còn quá thấp. Trong khi đó, chi phí vận hành và bảo dưỡng hệ thống xử lý nước thải yêu cầu kinh phí cao và liên tục. Do đó, cần có những chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, về đất, bù giá về vốn đầu tư cho các dự án.
     
  • Kinh doanh dịch vụ khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước

    Kinh doanh dịch vụ khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước
    Nội dung dưới đây so sánh điều kiện đầu tư kinh doanh dịch vụ khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước trước và sau khi bãi bỏ, đơn giản hóa.
    Điều kiện đầu tư kinh doanh trước khi đơn giản hóa
    Điều kiện cấp Giấy phép tài nguyên nước
    Tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tài nguyên nước phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
    1. Đã thực hiện việc thông báo, lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Nghị định 201/2013/NĐ-CP.
    2. Có đề án, báo cáo phù hợp với quy hoạch tài nguyên nước đã được phê duyệt hoặc phù hợp với khả năng nguồn nước, khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước nếu chưa có quy hoạch tài nguyên nước. Đề án, báo cáo phải do tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường lập; thông tin, số liệu sử dụng để lập đề án, báo cáo phải bảo đảm đầy đủ, rõ ràng, chính xác và trung thực.
    Phương án, biện pháp xử lý nước thải thể hiện trong đề án, báo cáo xả nước thải vào nguồn nước phải bảo đảm nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; phương án thiết kế công trình hoặc công trình khai thác tài nguyên nước phải phù hợp với quy mô, đối tượng khai thác và đáp ứng yêu cầu bảo vệ tài nguyên nước.
    3. Đối với trường hợp xả nước thải vào nguồn nước, ngoài điều kiện quy định Điểm 1 và Điểm 2 nêu trên, còn phải đáp ứng các điều kiện sau:
    a) Có thiết bị, nhân lực hoặc có hợp đồng thuê tổ chức, cá nhân khác đủ năng lực thực hiện việc vận hành hệ thống xử lý nước thảiquan trắc hoạt động xả nước thải đối với trường hợp đã có công trình xả nước thải;
    b) Có phương án bố trí thiết bị, nhân lực để thực hiện việc vận hành hệ thống xử lý nước thải và quan trắc hoạt động xả nước thải đối với trường hợp chưa có công trình xả nước thải;
    c) Đối với trường hợp xả nước thải quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 2 của Nghị định 201/2013/NĐ-CP, còn phải có phương án, phương tiện, thiết bị cần thiết để ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước và thực hiện việc giám sát hoạt động xả nước thải theo quy định.
    4. Đối với trường hợp khai thác, sử dụng nước dưới đất với quy mô từ 3.000 m3/ngày đêm trở lên, ngoài điều kiện quy định tại các Điểm 1 và 2 nêu trên, còn phải có thiết bị, nhân lực hoặc có hợp đồng thuê tổ chức, cá nhân có đủ năng lực thực hiện việc quan trắc, giám sát hoạt động khai thác nước theo quy định; trường hợp chưa có công trình thì phải có phương án bố trí thiết bị, nhân lực thực hiện việc quan trắc, giám sát hoạt động khai thác nước.
    5. Đối với trường hợp khai thác, sử dụng nước mặt có xây dựng hồ, đập trên sông, suối phải đáp ứng các yêu cầu quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 53 của Luật tài nguyên nước, điều kiện quy định tại Điểm 1 và Điểm 2 nêu trên và các điều kiện sau đây:
    a) Có phương án bố trí thiết bị, nhân lực để vận hành hồ chứa, quan trắc, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng nước; phương án quan trắc khí tượng, thủy văn, tổ chức dự báo lượng nước đến hồ để phục vụ vận hành hồ chứa theo quy định đối với trường hợp chưa có công trình;
    b) Có quy trình vận hành hồ chứa; có thiết bị, nhân lực hoặc có hợp đồng thuê tổ chức, cá nhân có đủ năng lực để thực hiện việc vận hành hồ chứa, quan trắc, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng nước, quan trắc khí tượng, thủy văn và dự báo lượng nước đến hồ để phục vụ vận hành hồ chứa theo quy định đối với trường hợp đã có công trình.

    Điều kiện đầu tư kinh doanh sau khi đơn giản hóa
    Điều kiện cấp Giấy phép tài nguyên nước
    Tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tài nguyên nước phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
    1. Đã thực hiện việc thông báo, lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Nghị định 201/2013/NĐ-CP.
    2. Có đề án, báo cáo phù hợp với quy hoạch tài nguyên nước đã được phê duyệt hoặc phù hợp với khả năng nguồn nước, khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước nếu chưa có quy hoạch tài nguyên nước. Đề án, báo cáo phải do tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định của Chính phủ; thông tin, số liệu sử dụng để lập đề án, báo cáo phải bảo đảm đầy đủ, rõ ràng, chính xác và trung thực.
    Phương án, biện pháp xử lý nước thải thể hiện trong đề án, báo cáo xả nước thải vào nguồn nước phải bảo đảm nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; phương án thiết kế công trình hoặc công trình khai thác tài nguyên nước phải phù hợp với quy mô, đối tượng khai thác và đáp ứng yêu cầu bảo vệ tài nguyên nước.
    3. Đối với trường hợp xả nước thải vào nguồn nước, ngoài điều kiện quy định Điểm 1 và Điểm 2 nêu trên, còn phải đáp ứng các điều kiện sau:
    a) Có thiết bị, nhân lực hoặc có hợp đồng thuê tổ chức, cá nhân khác đủ năng lực thực hiện việc vận hành hệ thống xử lý nước thảiquan trắc hoạt động xả nước thải đối với trường hợp đã có công trình xả nước thải;
    b) Có phương án bố trí thiết bị, nhân lực để thực hiện việc vận hành hệ thống xử lý nước thải và quan trắc hoạt động xả nước thải đối với trường hợp chưa có công trình xả nước thải;
    c) Đối với trường hợp xả nước thải quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 2 của Nghị định 201/2013/NĐ-CP, còn phải có phương án, phương tiện, thiết bị cần thiết để ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước và thực hiện việc giám sát hoạt động xả nước thải theo quy định.
    4. Đối với trường hợp khai thác, sử dụng nước dưới đất với quy mô từ 3.000 m3/ngày đêm trở lên, ngoài điều kiện quy định tại các Điểm 1 và 2 nêu trên, còn phải có thiết bị, nhân lực hoặc có hợp đồng thuê tổ chức, cá nhân có đủ năng lực thực hiện việc quan trắc, giám sát hoạt động khai thác nước theo quy định; trường hợp chưa có công trình thì phải có phương án bố trí thiết bị, nhân lực thực hiện việc quan trắc, giám sát hoạt động khai thác nước.
    5. Đối với trường hợp khai thác, sử dụng nước mặt có xây dựng hồ, đập trên sông, suối phải đáp ứng các yêu cầu quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 53 của Luật tài nguyên nước, điều kiện quy định tại Điểm 1 và Điểm 2 nêu trên và các điều kiện sau đây:
    a) Có phương án bố trí thiết bị, nhân lực để vận hành hồ chứa, quan trắc, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng nước; phương án quan trắc khí tượng, thủy văn, tổ chức dự báo lượng nước đến hồ để phục vụ vận hành hồ chứa theo quy định đối với trường hợp chưa có công trình;
    b) Có quy trình vận hành hồ chứa; có thiết bị, nhân lực hoặc có hợp đồng thuê tổ chức, cá nhân có đủ năng lực để thực hiện việc vận hành hồ chứa, quan trắc, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng nước, quan trắc khí tượng, thủy văn và dự báo lượng nước đến hồ để phục vụ vận hành hồ chứa theo quy định đối với trường hợp đã có công trình.

    Văn bản quy định điều kiện đầu tư kinh doanh sau khi đơn giản hóa
    - Điều 15, Điều 20 Nghị định số 201/2012/NĐ-CP;
    - Các Điều 5, 8, 9 Nghị định số 60/2016/NĐ-CP đã được sửa đổi tại khoản 2, khoản 6, khoản 7, khoản 8 Điều 7 Nghị định số 136/2018/NĐ-CP;
    - Điều 9 Nghị định số 136/2018/NĐ-CP.
     
  • Hà Nội: Quyết liệt giải quyết ô nhiễm môi trường ở bãi rác Nam Sơn

    Hà Nội: Quyết liệt giải quyết ô nhiễm môi trường ở bãi rác Nam Sơn
    Bãi rác Nam Sơn có nguy cơ quá tải.
    Tuy nhiên, theo UBND huyện Sóc Sơn, quá trình thực hiện chủ trương trên cũng gặp một số khó khăn, kiến nghị của người dân như: Vị trí tái định cư; thu hồi diện tích đất ở và đất nông nghiệp còn lại bị cắt xén; bồi thường hỗ trợ đối với đất ao liền kề; bồi thường diện tích xây dựng trên đất không được công nhận là đất ở; bồi thường trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vượt quá hạn mức giao đất; giao đất tái định cư cho các gia đình có nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất… Với những nội dung trên, UBND huyện Sóc Sơn cũng đã đề nghị các Sở ngành liên quan, UBND thành phố xem xét tháo gỡ.
     Theo ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, nhiều năm qua thành phố đặc biệt quan tâm đến đời sống của người dân Sóc Sơn nằm trong vùng bị ảnh hưởng từ bãi rác Nam Sơn. Vì vậy, với những kiến nghị từ phía người dân huyện Sóc Sơn, thành phố đã và đang xem xét giải quyết thấu đáo đảm bảo pháp luật. Theo UBND thành phố Hà Nội, ngoài việc giải quyết các kiến nghị cụ thể, UBND thành phố chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường trong và ngoài bãi rác Nam Sơn để người dân quanh khu vực bị ảnh hưởng ở mức thấp nhất.
     Thành phố Hà Nội đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường tiến hành quan trắc thường xuyên chất lượng không khí xung quanhnước thải sau xử lý tại bãi rác. Kết quả quan trắc môi trường không khí xung quanh vào các năm 2017, 2018, 2019 và quý I năm 2020 cho thấy, thông số được quan trắc đều nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật môi trường.
    Song thực thế, do khối lượng rác thải đưa về xử lý nhiều nên làm gia tăng khí thải, nước thải gây ảnh hưởng đến môi trường. Do vậy, để khắc phục nội dung trên, thành phố đã cho thử nghiệm và triển khai thành công việc phủ bề mặt bãi chôn lấp bằng công nghệ Posi - Shell; phủ bạt HDPE các ô chứa nước rỉ rác nhằm hạn chế nước mưa và giảm thiểu phát tán mùi ra ngoài môi trường; tăng cường giám sát công tác vận chuyển rác và thực hiện công tác vệ sinh môi trường trên các trục đường dẫn vào khu xử lý đã giảm thiểu được việc phát tán các chất ô nhiễm ra ngoài, đảm bảo vệ sinh môi trường khu vực xung quanh. Nhờ đó, chất lượng môi trường không khí xung quanh bãi rác đã được cải thiện rõ rệt, nồng độ ô nhiễm các thông số trong môi trường không khí xung quanh được quan trắc từ năm 2018 đến nay đều nằm trong giới hạn cho phép. Cùng với đó, Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện quan trắc nước thải tự động liên tục để theo dõi chất lượng nước thải sau xử lý của 3 đơn vị xử lý nước tại bãi rác Nam Sơn. Các phương tiện vận chuyển rác vào bãi rác Nam Sơn cũng được yêu cầu lắp đặt camera giám sát, đảm bảo kín, khít không rò rỉ nước rác ra môi trường.
    UBND thành phố cũng chỉ đạo huyện Sóc Sơn đẩy nhanh công tác lập, phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư cho các hộ dân; tổ chức tuyên truyền vận động, thông tin cụ thể đến các hộ dân về kế hoạch phê duyệt phương án bồi thường, chi trả tiền cũng như chính sách pháp luật để người dân hiểu và chấp hành việc di dời ra khỏi bãi rác bán kính 500 mét. Các sở, ngành và huyện Sóc Sơn được chỉ đạo tạo điều kiện tối đa đẩy nhanh việc xây dựng dự án Nhà máy điện rác Sóc Sơn đặt tại bãi rác Nam Sơn của Công ty Thiên Ý. Dự kiến sau khi hoàn thành vào tháng 10/2020, nhà máy sẽ xử lý khoảng 4.000 tấn rác/ngày đêm, góp phần giảm tải cho bãi rác Nam Sơn.
     
  • Thanh Hóa: Nhiều cơ sở tái chế bao bì gây ô nhiễm môi trường

     

    Thanh Hóa: Nhiều cơ sở tái chế bao bì gây ô nhiễm môi trường

    Trên địa bàn xã Thái Hòa, huyện Triệu Sơn (Thanh Hoá) hiện đang có 28 cơ sở tái chế bao bì đang hoạt động. Các cơ sở này thường xuyên xả thải gây ô nhiễm môi trường khiến người dân địa phương rất bức xúc.

    Thanh Hóa: Nhiều cơ sở tái chế bao bì gây ô nhiễm môi trường

    Điểm tập kết bao bì được chất thành đống hai bên đường.

    Sống chung cùng ô nhiễm

    Qua tìm hiểu, trên địa bàn xã Thái Hòa bắt đầu xuất hiện hoạt động thu gom, tái chế bao bì từ năm 2013. Ban đầu chỉ có 4-5 cơ sở, đến nay, số lượng các cơ sở giặt, tái chế bao bì tại xã lên tới con số 28. Người dân ở đây cho biết, việc tái chế bao bì tại các cơ sở trên địa bàn xã là hoạt động tự phát của các hộ gia đình đã tồn tại qua nhiều năm, phần lớn các cơ sở nằm xen kẽ trong khu dân cư, số còn lại nằm dọc chân đê sông Nhơm. Hệ thống trang thiết bị của các cơ sở tái chế bao bì khá sơ sài, hệ thống phòng cháy chữa cháy không đảm bảo, công nhân không sử dụng bảo hộ lao động.

    Quan sát thực tế tại các cơ sở, chúng tôi nhận thấy, nguồn nguyên liệu của họ chủ yếu là bao bì sản phẩm và bao bì xi măng. Các loại bao bì này được thu gom từ các huyện rồi được chở trực tiếp về các cơ sở để tái chế. Mỗi ngày có hàng trăm lượt xe tải di chuyển về các thôn, xóm để tập kết bao bì gây nên tình trạng sụt lún và mất an toàn giao thông tại nhiều tuyến đường. Sau khi bao bì được tập kết, các cơ sở cho hết vào máy giặt, giặt trong khoảng 15 phút. Từ đó, hàng trăm bao xi măng đen kịt đã được giặt sạch, trở nên trắng tinh, sạch sẽ. Những thứ còn lại là bụi bẩn, cát, bột và nước thải sẽ được các cơ sở cho vào bể lắng lọc rồi xả xuống sông Nhơm. Tuy nhiên, hầu hết các bể lắng ở đây xây dựng tạm bợ, đã quá tải, mất vệ sinh.

    Theo ghi nhận, ngoài việc xả thải ra sông Nhơm gây ô nhiễm môi trường, các cơ sở tái chế bao bì này còn đốt các chất thải rắn ngay tại xưởng khiến khói đen bay ngập trời, gây ảnh hưởng đến các hộ dân xung quanh. Ông N.V.T, một người dân sống ngay cạnh xưởng tái chế bức xúc nói: “Họ hoạt động 9 tiếng mỗi ngày nên điếc tai lắm, nước thải thì xả trực tiếp ra ao nhỏ ngay cạnh nhà tôi đây này. Giờ nhà tôi và người dân ở cả cái xã này phải đi mua máy lọc để dùng chứ nước thải bẩn ngấm hết vào lòng đất rồi”.

    Ông Thiều Đình Oanh, trưởng thôn Thái Phong cũng cho rằng: “Các cơ sở giặt và tái chế bao bì phế liệu tại xã đều hoạt động theo hình thức hộ gia đình nên không có các điều kiện đảm bảo môi trường, xử lý chất thải, nước thải theo quy định”.

    Đã xử phạt nhưng vẫn tiếp diễn

    Trước những tác động xấu đến môi trường của các cơ sở này thì cuối năm 2018 Sở TNMT Thanh Hóa đã tiến hành kiểm tra, lập biên bản xử phạt hành chính 28 cơ sở với số tiền phạt 792 triệu đồng, buộc 21/28 cơ sở dừng hoạt động sản xuất 6 tháng. Nhưng theo người dân địa phương thì chỉ sau một thời gian ngắn, các cơ sở này lại tiếp tục tái hoạt động công khai. Họ vẫn tiếp tục xả thảiđốt rác gây ô nhiễm mặc cho người dân phản đối.

    Về vấn đề bụi, ô nhiễm nước thải của các xưởng tái chế, ông Trịnh Văn An - Phó chủ tịch UBND xã Thái Hòa thừa nhận: Có tình trạng các cơ sở giặt, tái chế bao bì hoạt động gây ô nhiễm như người dân phản ánh. Qua nhiều lần kiểm tra, xã cũng đã nhắc nhở, thậm chí xử phạt hành chính, song tới nay họ vẫn chưa khắc phục. “Trước tình hình trên, năm 2018 chúng tôi cũng đã đề xuất lên huyện quy hoạch một khu vực cho các hộ tái chế bao bì này hoạt động tập trung nhưng đến nay vẫn chưa được phê duyệt. Trước mắt, xã sẽ tiếp tục triển khai kiểm tra, xử lý và có hình thức phạt thật nặng đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, còn về lâu dài thì vẫn phải tiếp tục chờ huyện thôi”- ông An phân trần.

    Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Xuân - Phó phòng TNMT thuộc UBND huyện Triệu Sơn cho biết: Đơn vị đã nắm được tình trạng các cơ sở tái chế bao bì gây ô nhiễm trở lại. Sắp tới, huyện Triệu Sơn sẽ phối hợp với Sở TNMT Thanh Hóa mời một đơn vị về khảo sát đánh giá thực trạng môi trường tại các cơ sở này. Dựa trên kết quả này, đơn vị sẽ đưa ra công nghệ xử lý nước thải thí điểm tại một vài cơ sở trước. Khi đã có phương án mà các hộ tiếp tục không làm thì phòng TNMT sẽ đề xuất lên huyện đình chỉ hoạt động”- bà Xuân khẳng định.   

  • Hà Nội: Quyết liệt giải quyết ô nhiễm môi trường ở bãi rác Nam Sơn

    Hà Nội: Quyết liệt giải quyết ô nhiễm môi trường ở bãi rác Nam Sơn
    Bãi rác Nam Sơn có nguy cơ quá tải.
    Tuy nhiên, theo UBND huyện Sóc Sơn, quá trình thực hiện chủ trương trên cũng gặp một số khó khăn, kiến nghị của người dân như: Vị trí tái định cư; thu hồi diện tích đất ở và đất nông nghiệp còn lại bị cắt xén; bồi thường hỗ trợ đối với đất ao liền kề; bồi thường diện tích xây dựng trên đất không được công nhận là đất ở; bồi thường trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vượt quá hạn mức giao đất; giao đất tái định cư cho các gia đình có nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất… Với những nội dung trên, UBND huyện Sóc Sơn cũng đã đề nghị các Sở ngành liên quan, UBND thành phố xem xét tháo gỡ.
     Theo ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, nhiều năm qua thành phố đặc biệt quan tâm đến đời sống của người dân Sóc Sơn nằm trong vùng bị ảnh hưởng từ bãi rác Nam Sơn. Vì vậy, với những kiến nghị từ phía người dân huyện Sóc Sơn, thành phố đã và đang xem xét giải quyết thấu đáo đảm bảo pháp luật. Theo UBND thành phố Hà Nội, ngoài việc giải quyết các kiến nghị cụ thể, UBND thành phố chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường trong và ngoài bãi rác Nam Sơn để người dân quanh khu vực bị ảnh hưởng ở mức thấp nhất.
    Thành phố Hà Nội đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường tiến hành quan trắc thường xuyên chất lượng không khí xung quanhnước thải sau xử lý tại bãi rác. Kết quả quan trắc môi trường không khí xung quanh vào các năm 2017, 2018, 2019 và quý I năm 2020 cho thấy, thông số được quan trắc đều nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật môi trường.
    Song thực thế, do khối lượng rác thải đưa về xử lý nhiều nên làm gia tăng khí thải, nước thải gây ảnh hưởng đến môi trường. Do vậy, để khắc phục nội dung trên, thành phố đã cho thử nghiệm và triển khai thành công việc phủ bề mặt bãi chôn lấp bằng công nghệ Posi - Shell; phủ bạt HDPE các ô chứa nước rỉ rác nhằm hạn chế nước mưa và giảm thiểu phát tán mùi ra ngoài môi trường; tăng cường giám sát công tác vận chuyển rác và thực hiện công tác vệ sinh môi trường trên các trục đường dẫn vào khu xử lý đã giảm thiểu được việc phát tán các chất ô nhiễm ra ngoài, đảm bảo vệ sinh môi trường khu vực xung quanh. Nhờ đó, chất lượng môi trường không khí xung quanh bãi rác đã được cải thiện rõ rệt, nồng độ ô nhiễm các thông số trong môi trường không khí xung quanh được quan trắc từ năm 2018 đến nay đều nằm trong giới hạn cho phép. Cùng với đó, Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện quan trắc nước thải tự động liên tục để theo dõi chất lượng nước thải sau xử lý của 3 đơn vị xử lý nước tại bãi rác Nam Sơn. Các phương tiện vận chuyển rác vào bãi rác Nam Sơn cũng được yêu cầu lắp đặt camera giám sát, đảm bảo kín, khít không rò rỉ nước rác ra môi trường.
    UBND thành phố cũng chỉ đạo huyện Sóc Sơn đẩy nhanh công tác lập, phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư cho các hộ dân; tổ chức tuyên truyền vận động, thông tin cụ thể đến các hộ dân về kế hoạch phê duyệt phương án bồi thường, chi trả tiền cũng như chính sách pháp luật để người dân hiểu và chấp hành việc di dời ra khỏi bãi rác bán kính 500 mét. Các sở, ngành và huyện Sóc Sơn được chỉ đạo tạo điều kiện tối đa đẩy nhanh việc xây dựng dự án Nhà máy điện rác Sóc Sơn đặt tại bãi rác Nam Sơn của Công ty Thiên Ý. Dự kiến sau khi hoàn thành vào tháng 10/2020, nhà máy sẽ xử lý khoảng 4.000 tấn rác/ngày đêm, góp phần giảm tải cho bãi rác Nam Sơn.
     
  • Đề xuất giảm 20% - 30% phí trong lĩnh lực tài nguyên, môi trường

    Đề xuất giảm 20% - 30% phí trong lĩnh lực tài nguyên, môi trường
    Nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung 02 Thông tư quy định thu phí trong lĩnh lực tài nguyên, môi trường, trong đó đề xuất giảm mức thu phí từ 20%-30%.
    Theo đó, dự thảo bổ sung Điều 3 Thông tư số 270/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định đề án, báo cáo thăm dò đánh giá trữ lượng, khai thác, sử dụng nước dưới đất; phí thẩm định hồ sơ, điều kiện hành nghề khoan nước dưới đất; phí thẩm định đề án khai thác, sử dụng nước mặt, nước biển; phí thẩm định đề án xả nước thải vào nguồn nước, công trình thuỷ lợi do cơ quan trung ương thực hiện thẩm định như sau: Giảm 20% mức phí quy định tại Biểu mức thu ban hành kèm theo Thông tư 270/2016/TT-BTC kể từ ngày 2 tháng 3 năm 2020 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2020.
    Đồng thời dự thảo cũng bổ sung Điều 3 Thông tư số 197/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu khí tượng thuỷ văn như sau: Giảm 30% mức phí quy định tại Biểu mức thu ban hành kèm theo Thông tư 197/2016/TT-BTC kể từ ngày ... tháng 3 năm 2020 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2020.
     
  • Quản lý, kiểm soát chặt chẽ nước thải công nghiệp

    Quản lý, kiểm soát chặt chẽ nước thải công nghiệp
    Hoạt động kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp có chuyển biến tích cực.
    Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tập trung nguồn lực quản lý, kiểm soát chặt chẽ loại hình nước thải công nghiệp, đặc biệt là nước thải phát sinh từ các khu công nghiệp.
    Đến đầu năm 2020, trên toàn quốc có 274
    khu công nghiệp đang hoạt động, trong đó có 244 khu công nghiệphệ thống xử lý nước thải tập trung, chiếm 89%. Các địa phương có số lượng khu công nghiệp lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Long An, Quảng Ninh, Bắc Ninh... Có 191/244 khu công nghiệp có trạm quan trắc tự động, chiếm 78,3%. Có 276 cụm công nghiệp có báo cáo đánh giá tác động môi trường, 160 cụm công nghiệp có hệ thống tách nước mưa và nước thải, 109 cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung, đạt 15,8%, 10 cụm công nghiệp có hệ thống quan trắc tự động nước thải.
    Nhiều địa phương đã chú trọng lựa chọn, thu hút các dự án công nghệ cao, dự án có tỷ lệ đầu tư về môi trường lớn, một số địa phương đã bước đầu thực hiện việc phòng ngừa, kiểm soát
    ô nhiễm môi trường trong quá trình thu hút đầu tư thông qua việc lựa chọn những ngành nghề, dự án đầu tư có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch.
    Năm 2020, Tổng cục Môi trường (
    Bộ Tài nguyên và Môi trường) sẽ tăng cường kiểm soát chặt chẽ về môi trường đối với các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề; rà soát kiên quyết yêu cầu chủ đầu tư các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; xây dựng, vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung, đảm bảo tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ít nhất 90%; yêu cầu các đối tượng có quy mô xả thải lớn có lưu lượng từ 1.000m3/ngày đêm lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải, khi thải tự động liên tục, truyền số liệu trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường theo quy định của pháp luật phục vụ việc theo dõi, giám sát nguồn thải. Vấn đề cần ưu tiên là việc xác định các nguồn thải trọng điểm để kiểm soát chặt chẽ và có những biện pháp xử lý phù hợp.

    Công Ty Cổ Phần VITES tự hào sở hữu đội ngũ cán bộ là các thạc sỹ, kỹ sư trẻ, năng động, am hiểu ứng dụng, kinh nghiệm trong tư vấn, lắp đặt các hệ thống quan trắc tự động nước thải, nước mặt, nước cấp, hệ thống giám sát khí thải ống khói nhà máy, hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn, hệ thống thiết bị đo lường trong phòng thí nghiệm hóa lý, sinh học, môi trường, các thiết bị y tế và xây dụng hệ thống xử lý nước thải...
    Để được tư vấn xây dựng một 
    trạm quan trắc tự động, liên tục áp dụng những công nghệ tiên tiến nhất, quý khách vui lòng liên hệ Hotline: 0845566899 - 02463267889 để được tư vấn miễn phí.
     
  • Xây hệ thống xử lý nước rỉ rác quy mô cấp huyện

    Xây hệ thống xử lý nước rỉ rác quy mô cấp huyện
    Bộ KH&CN đã phê duyệt dự án áp dụng sáng chế của Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm (Đại học Bách khoa Hà Nội) để xây dựng hệ thống xử lý nước rỉ rác từ bãi chôn lấp rác thải quy mô cấp huyện. 
    Việt Nam là quốc gia có tốc độ gia tăng dân số và quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng. Trong khi đó, chất lượng môi trường sống đang bị suy giảm do không kiểm soát được các nguồn chất thải phát sinh, như nước rỉ rác thải.
    Ông Hoàng Quốc Tuấn, Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm cho biết: Nước rỉ rác được sinh ra từ rác thải, loại nước thải từ rỉ rác thường đi kèm với mùi xú uế, chứa nhiều chất rất độc hại như kim loại nặng, các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh… có khả năng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Nếu thấm vào đất, nước rỉ rác thải sẽ gây ô nhiễm trầm trọng nguồn nước ngầm, nếu chảy vào kênh sẽ hủy hoại môi trường thủy sinh ở khu vực đó. Vì vậy, rất cần thiết phải xử lý triệt để nước rỉ rác trước khi thải ra môi trường.
    Một số công nghệ xử lý nước rỉ rác đã được nghiên cứu, ứng dụng như kết hợp nước rỉ rác với nước thải sinh hoạt, quay vòng nước rỉ rác, xử lý hóa lý hay xử lý bằng các hồ sinh học… Gần đây, nhiều công nghệ xử lý nước rỉ rác được nhập khẩu từ nước ngoài, song chưa được triển khai hoặc phải ngừng hoạt động do công nghệ không phù hợp với đặc tính nước rỉ rác ở Việt Nam. Do vậy, hầu hết nước rỉ rác tại bãi chôn lấp đều thải trực tiếp vào môi trường, khuếch tán mầm bệnh gây tác động xấu đến môi trường và sức khỏe con người.
    Dự án của Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm đề xuất giải pháp công nghệ xử lý sinh học, sử dụng chất ôxy hóa mạnh là H2O2 nhằm phá vỡ cấu trúc của các cơ chất khó phân hủy trong nước rỉ rác thành dạng dễ phân hủy hơn, sau đó khai thác năng lực đồng hóa cao của hệ vi sinh vật hiếu khí để xử lý các chất này.
    Tuy nhiên, để hiện thực hóa giải pháp công nghệ trên cần loại hết lượng H2O2 tồn dư, giúp duy trì nồng độ ôxy hòa tan đủ cao trong môi trường, các vi sinh vật hiếu khí mới có thể hoạt động hiệu quả. Đây được coi là một vấn đề nan giải trong thực tiễn xử lý nước rỉ rác ở Việt Nam nhưng hiện được Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm giải quyết triệt để nhờ khả năng cấp khí mạnh trong môi trường lỏng với thiết bị trộn-sục khí tầng sôi.
    Thiết bị trộn-sục khí tầng sôi là sáng chế của Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm để sục phân tán không khí vào trong nước hay vào môi trường lỏng, với đặc tính công nghệ cạnh tranh hơn so với các dạng thiết bị cấp khí hiện hành.
    Ông Hoàng Quốc Tuấn, Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm nhấn mạnh điểm mới của thiết bị trộn-sục khí tầng sôi là kiểu hợp khối đồng thời, nhưng tách biệt 3 bộ cánh quạt đã làm cho quá trình vận chuyển ly tâm 3 cấu tử nước phía trên, khí ở giữa và nước phía dưới hoàn toàn độc lập với nhau.
    Đồng thời, thiết bị khai thác được ưu thế vận chuyển khí lớn của quạt khí ly tâm và cho phép điều chỉnh được lượng không khí sục vào môi trường lỏng, là 2 đặc tính không thực hiện được khi sử dụng thiết bị khuấy trộn tuốc bin trục rỗng. Thiết bị này có thể ứng dụng để cấp khí vào môi trường trong công nghệ lên men hiếu khí, trong xử lý nước thải, xử lý nước hồ hay trong các hồ nuôi trồng thủy hải sản, hoặc có thể được ứng dụng để trộn phân tán giữa 2 pha khí và lỏng (hay giữa 2 pha linh động với nhau) để cải thiện hiệu quả trích ly các cấu tử cần tách từ pha này sang pha kia.
    Với đặc tính công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường, thiết bị trộn-sục khí tầng sôi được áp dụng vào thực tế đã tháo gỡ được vấn đề nan giải trong xử lý nước rỉ rác ở Việt Nam hiện nay, tạo môi trường hiếu khí cao cho hệ thống xử lý sinh học nước rỉ rác được xây dựng, giúp kiểm soát hiệu quả ô nhiễm nước rỉ rác tại bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt.
     
  • Quản lý chặt môi trường công nghiệp

    Quản lý chặt môi trường công nghiệp
    Thời gian qua, việc xử lý môi trường trong các cụm công nghiệp (CCN), khu công nghiệp (KCN) được UBND tỉnh Khánh Hòa đặc biệt quan tâm. Tất cả các dự án hạ tầng CN đều phải có
    hệ thống xử lý nước thải mới được bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư thứ cấp.
    Bắt buộc phải có trạm xử lý nước thải   
    Theo lãnh đạo Sở Công Thương, đến nay, toàn tỉnh đã thành lập và quyết định chủ trương đầu tư cho 7 CCN và 2 KCN. Ngoài KCN Ninh Thủy (thị xã Ninh Hòa), CCN Sông Cầu (huyện Khánh Vĩnh) và CCN Diên Thọ (huyện Diên Khánh) đang triển khai, các CCN, KCN còn lại đều được đầu tư hạ tầng kỹ thuật tương đối hoàn chỉnh. Tại các dự án này, vấn đề môi trường được lãnh đạo tỉnh đặc biệt quan tâm. Trong quy hoạch, cơ quan chức năng đã chủ động bố trí các nhà máy, xí nghiệp theo hướng ít ảnh hưởng đến môi trường của khu vực xung quanh. Các CCN, KCN mới hình thành phải ưu tiên cho những doanh nghiệp (DN) sản xuất ít gây ô nhiễm vào đầu tư. CN sạch là định hướng phát triển lâu dài trên địa bàn tỉnh.
    Lãnh đạo tỉnh kiểm tra hệ thống xử lý nước thải tại Cụm Công nghiệp Trảng É.
    Hiện nay, tất cả các dự án CN mới, xử lý nước thải luôn là hạng mục bắt buộc. Kể cả khi hạ tầng cơ sở của KCN, CCN đã hoàn thiện, nhưng nếu chưa có hệ thống xử lý nước thải thì vẫn không được phép bàn giao mặt bằng cho các nhà đầu tư thứ cấp. Tại 2 CCN Sông Cầu và Trảng É, dù phải một thời gian dài nữa mới có DN  đi vào hoạt động nhưng hiện nay trạm xử lý nước thải đã hoàn tất. Ông Phan Hoài Phương - Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Đầu tư và Kinh doanh bất động sản Khatoco (chủ đầu tư CCN Trảng É) cho biết: “Khả năng nhanh nhất cũng hơn 1 năm nữa, CCN mới có DN chính thức hoạt động. Vậy nhưng, theo quy định, chủ đầu tư vẫn phải hoàn thành nhà máy xử lý nước thải trước khi bàn giao cho nhà đầu tư thứ cấp. Việc xây dựng như vậy sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và khả năng hệ thống xử lý bị hư hỏng vì phải chờ vận hành là rất cao. Song, để đảm bảo cho môi trường, chúng tôi vẫn nghiêm túc thực hiện”.
    Giám sát chặt chẽ
    Thời gian qua, các ngành chức năng luôn chủ động kiểm tra, giám sát việc xử lý cũng như xả thải tại các KCN, CCN; tránh tình trạng xảy ra ô nhiễm, kịp thời chấn chỉnh nếu có trường hợp DN vi phạm. Hiện nay, toàn tỉnh có 2 trạm xử lý nước thải đang vận hành ở CCN Diên Phú và KCN Suối Dầu đều được giám sát rất chặt chẽ. Trạm xử lý nước thải tập trung của CCN Diên Phú có công suất thiết kế 1.500m3/ngày đêm. Mỗi ngày, trạm tiếp nhận xử lý lượng nước khoảng 200 - 250m3. Để giám sát quá trình xử lý nước thải, bộ phận quản lý CCN đã vận hành thiết bị đo lường theo những quy chuẩn nghiêm ngặt. Bên cạnh đó, Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại tỉnh còn hợp đồng với Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng lấy mẫu nước thải 3 lần/năm để kiểm tra, phân tích và báo cáo cơ quan chức năng về công tác bảo vệ môi trường của CCN đối với nước thải sản xuất sau xử lý theo quy định. 
    Ở KCN Suối Dầu, công tác xả thải cũng như xử lý nước thải được đặc biệt quan tâm. Ông Trần Đình Tân - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần KCN Suối Dầu cho biết, sau khi KCN đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải, vấn đề môi trường được kiểm soát rất tốt. Thông qua các thông số kỹ thuật có độ chính xác cao, các cán bộ điều hành hệ thống sẽ xử lý những tình huống ô nhiễm môi trường kịp thời. Đồng thời, qua hệ thống quan trắc, việc giám sát môi trường đối với các công ty cũng trở nên dễ dàng; những vi phạm trong lĩnh vực môi trường nếu có sẽ được phát hiện nhanh chóng. Hiện nay, tất cả các DN trong KCN đều đã đấu nối nước thải vào hệ thống xử lý chung. Công suất của hệ thống xử lý nước thải KCN 2.500m3/ngày đêm.
    Ngoài ra, việc lắp đặt hệ thống quan trắc tự động cũng được đẩy mạnh. Theo báo cáo của Chi cục Bảo vệ môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, trên địa bàn tỉnh có 8 đơn vị thuộc diện phải tiến hành lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động gồm: KCN Suối Dầu, KCN Ninh Thủy, CCN Diên Phú, Công ty Cổ phần Dệt may Nha Trang, Nhà máy đường Khánh Hòa, Nhà máy đường Ninh Hòa, Nhà máy xử lý nước thải Nha Trang, Nhà máy bia Sài Gòn - Khánh Hòa. Đến thời điểm này, các đơn vị đã hoàn thành việc lắp đặt hệ thống quan trắc. Sau khi triển khai lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, Sở Tài nguyên - Môi trường không cần thành lập các đoàn kiểm tra theo định kỳ nhưng vẫn giám sát liên tục vấn đề môi trường ở các DN. 
    Ông Bùi Minh Sơn - Phó Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường, Sở Tài nguyên - Môi trường cho biết: “Vấn đề môi trường tại các KCN, CCN được lãnh đạo tỉnh, ngành và các địa phương rất quan tâm. Các DN cũng ngày càng có ý thức và trách nhiệm hơn trong vấn đề này. Để nâng cao hiệu quả quản lý lĩnh vực môi trường, Chi cục Bảo vệ môi trường thường xuyên tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh các hoạt động xả thải và xử lý nghiêm các đơn vị nếu phát hiện vi phạm. Bên cạnh đó, tập trung kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm, tăng cường quản lý rác thải CN, nguy hại; tham mưu các giải pháp phù hợp để cải thiện môi trường trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư, góp phần vào sự phát triển chung của tỉnh”.
     
  • Sự cố chất thải được phân thành 04 loại để xác định rõ trách nhiệm của các bên có liên quan

    Sự cố chất thải được phân thành 04 loại để xác định rõ trách nhiệm của các bên có liên quan
    Ngày 18/03/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 09/2020/QĐ-TTg ban hành quy chế ứng phó sự cố chất thải. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có quy định pháp luật cụ thể về ứng phó sự cố chất thải. Phóng viên Báo Tài nguyên và Môi trường đã có buổi phỏng vấn ông Phan Tuấn Hùng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Tài nguyên và Môi trường (đơn vị chủ trì) về nội dung này
    Ông Phan Tuấn Hùng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Tài nguyên và Môi trường
    Thưa ông, Thủ tướng Chính phủ vừa ký ban hành Quy chế ứng phó sự cố chất thải và sẽ có hiệu lực vào ngày 01/5/2020 tới đây, xin ông chia sẻ về sự cần thiết và bối cảnh ban hành Quy chế này.
    Ông Phan Tuấn Hùng: Theo Luật Bảo vệ môi trường thì sự cố môi trường là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng. Có thể thấy khái niệm sự cố môi trường là rất rộng, bao gồm các sự cố do thiên tai, nhân tai và sự cố kết hợp giữa thiên tai và nhân tai. Thực tế hiện nay do tính chất rất khác nhau của các sự cố môi trường nên các sự cố đã được quy định bởi các hệ thống pháp luật khác nhau, chẳng hạn như hóa chất, cháy nổ, tràn dầu, phóng xạ, thiên tai, cháy rừng.v.v...  Các sự cố tôi đề cập hiện đang được quy định với các hình thức, mức độ hiệu lực pháp luật khác nhau và trách nhiệm chủ trì, phân công, phân cấp trách nhiệm ứng phó cũng rất khác nhau.
    Sự cố chất thải là một loại sự cố môi trường theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường. Về góc độ pháp lý tôi cho rằng việc ứng phó sự cố chất thải trước khi ban hành Quy chế này là một khoảng trống pháp lý, chúng ta chưa có quy định pháp luật cụ thể về ứng phó sự cố chất thải, đặc biệt là xác định loại sự cố, các bước ứng phó, trách nhiệm tổ chức ứng phó, nguồn lực để ứng phó.v.v.... Do thiếu hành lang pháp lý nên việc ứng phó sự cố chất thải thời gian qua chúng ta còn rất lúng túng, bị động và thiếu hiệu quả. Chúng tôi có đi khảo sát thực tế thì các địa phương cho biết khi xảy ra sự cố chất thải chính quyền địa phương đã huy động toàn hệ thống chính trị và các lực lượng liên quan vào cuộc nhưng do không có quy định cụ thể, không rõ trách nhiệm nên không ai biết mình phải làm gì. Cá nhân tôi cho rằng Quy chế này là mảnh ghép quan trọng và cần thiết để lấp đầy khoảng trống pháp lý và tháo gỡ các khó khăn trong thực tiễn ứng phó sự cố chất thải hiện nay.  
    Trong quá trình xây dựng Quy chế cũng có ý kiến đề xuất ban hành quy chế ứng phó sự cố môi trường bao trùm, tích hợp và điều chỉnh tất cả các sự cố môi trường hiện nay để bảo đảm tính tổng thể, thống nhất, hiệu quả nguồn lực.v.v.. trong ứng phó các sự cố môi trường. Đề xuất này rất đúng và đấy là mô hình mà chúng ta hướng đến tương tự như các quốc gia phát triển đang làm hiện nay. Tuy nhiên, chúng ta phải đặt trong bối cảnh thực tế là đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các sự cố khác nhau và để làm việc này cần phải xử lý ở cấp độ luật và cần có lộ trình nghiên cứu, đánh giá tổng thể từ đó mới sửa đổi, tích hợp các quy định pháp luật có liên quan. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang xây dựng dự án Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) và vấn đề này sẽ được tính toán tổng thể trong dự án Luật này; dự kiến dự án Luật này sẽ được Quốc hội cho ý kiến và thông qua trong năm 2020.
    Tôi cũng xin nói thêm là Quyết định ban hành Quy chế này là văn bản dưới luật nên không thể tham vọng điều chỉnh tất cả các nội dung có liên quan mà phải bảo đảm nguyên tắc không thể trái và phải thống nhất các quy định pháp luật hiện hành có liên quan, đặc biệt là các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp luật cao hơn như luật, pháp lệnh, nghị định.
    Thưa ông, xin ông cho biết khái niệm sự cố chất thải và phạm vi điều chỉnh của Quy chế ứng phó sự cố chất thải?
    Ông Phan Tuấn Hùng: Theo Quy chế thì sự cố chất thải là một loại sự cố môi trường và do chất thải gây ra; chất thải ở đây là nước thải, khí thải, chất thải rắn. Sự cố này xảy ra trong quá trình quản lý chất thải của tổ chức, cá nhân gồm các hoạt động phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải
    Phạm vi điều chỉnh của Quy chế này là việc ứng phó sự cố chất thải, bao gồm phân loại sự cố, giai đoạn ứng phó sự cố và trách nhiệm ứng phó sự cố và các cơ chế tài chính, nguồn lực và sự tham gia của cộng đồng trong ứng phó sự cố chất thải. Tuy nhiên, Quy chế này đã loại trừ và không điều chỉnh sự cố chất thải trong 02 trường hợp: (1) sự cố chất thải do thiên tai gây ra (như bão, lũ, động đất, sạt lở đất.v.v.) và (2) sự cố chất thải xảy ra trên biển. Theo quy định thì việc ứng phó sự cố chất thải do thiên tai được thực hiện theo quy định của pháp luật về phòng chống thiên tai. Việc ứng phó sự cố chất thải xảy ra trên biển được thực hiện theo quy định pháp luật về ứng phó sự cố hóa chất độc, ứng phó sự cố tràn dầu và các pháp luật khác có liên quan. 
    Sự cố chất thải được phân loại như thế nào và việc xác định trách nhiệm ứng phó sự cố chất thải sẽ thực hiện ra sao, thưa ông?
    Ông Phan Tuấn Hùng: Quán triệt nguyên tắc “bốn tại chỗ”, “ba sẵn sàng” đã được thực hiện thành công, hiệu quả trong phòng chống thiên tai, Quy chế này đã quy định rõ nguyên tắc sự cố chất thải xảy ra ở đâu thì chính quyền địa phương ở đó phải có trách nhiệm tổ chức ứng phó sự cố. Sự cố chất thải được phân loại thành 04 loại dựa trên mức độ, phạm vi tác động đến môi trường của sự cố; tương ứng từng loại sự cố chất thải thì trách nhiệm ứng phó của các chủ thể đã được xác định rõ ràng, cụ thể.
    Sự cố mức độ thấp: gồm sự cố trong phạm vi của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và trong khả năng tự ứng phó của cơ sở thì chủ cơ sở tổ chức ứng phó và sự cố có phạm vi ảnh hưởng trong địa giới hành chính của một huyện (trừ sự cố trong phạm vi của cơ sở) thì Chủ tịch UBND cấp huyện, Trưởng Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn cấp huyện có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức ứng phó.
    Sự cố mức độ trung bình là sự cố có phạm vi ảnh hưởng trong địa giới hành chính của một tỉnh (trừ sự cố mức độ thấp). Sự cố loại này do Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Trưởng Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn cấp tỉnh chỉ đạo tổ chức ứng phó.
    Sự cố mức độ cao là sự cố có phạm vi ảnh hưởng trên địa giới hành chính của hai tỉnh trở lên. Sự cố này do Ủy ban quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn chỉ đạo tổ chức ứng phó.
    Sự cố thảm họa là sự cố đặc biệt nghiêm trọng, có ảnh hưởng lớn đến quốc phòng, an ninh, ngoại giao. Việc ứng phó sự cố này được thực hiện theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp
    Quy chế này cho phép cơ quan, người có thẩm quyền chỉ đạo tổ chức ứng phó sự cố chất thải được thành lập sở chỉ huy, chỉ định người chỉ huy, chỉ định người phát ngôn và được quyền yêu cầu và huy động các lực lượng có liên quan để tổ chức ứng phó sự cố chất thải.
    Vậy cơ quan quản lý nhà nước, chuyên môn về bảo vệ môi trường có vai trò như thế nào? Vấn đề này, Quy chế đã quy định rõ cơ quan tham mưu trong tổ chức ứng phó sự cố chất thải là Bộ Tài nguyên và Môi trường và cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường các cấp tương ứng thẩm quyền chỉ đạo ứng phó sự cố chất thải của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn và Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn các cấp.
    Ảnh minh họa
    Ứng phó sự cố chất thải có các giai đoạn, xin ông cho biết các giai đoạn được quy định như thế nào, thưa ông?
    Ông Phan Tuấn Hùng: Đúng vậy, ứng phó sự cố chất thải có 03 giai đoạn: (1) giai đoạn chuẩn bị ứng phó sự cố, (2) giai đoạn tổ chức ứng phó sự cố và (3) giai đoạn cải tạo, phục hồi môi trường sau sự cố. Bắt đầu và kết thúc giai đoạn tổ chức ứng phó sự cố và giai đoạn cải tạo, phục hồi môi trường phải được công bố công khai bởi cơ quan có thẩm quyền để cộng đồng dân cư được biết.
    Giai đoạn thứ nhất là chuẩn bị ứng phó sự cố chất thải. Giai đoạn này gồm các hoạt động như xây dựng kế hoạch, kịch bản ứng phó sự cố; xây dựng lực lượng, nguồn lực và trang thiết bị ứng phó sự cố và tổ chức diễn tập ứng phó sự cố sự cố chất thải.
    Giai đoạn thứ hai là tổ chức ứng phó sự cố chất thải. Đây là giai đoạn phức tạp nhất và khó khăn nhất, gồm các hoạt động tiếp nhận, xử lý thông tin và công bố sự cố chất thải; thành lập sở chỉ huy, chỉ định người chỉ huy, người phát ngôn; huy động các lực lượng để triển khai các hoạt động ứng phó cụ thể; điều tra nguyên nhân sự cố trong trường hợp cần thiết.
    Giai đoạn thứ ba là cải tạo, phục hồi môi trường sau sự cố chất thải gồm các nội dung như điều tra, đánh giá mức độ thiệt hại; xác định khối lượng, hạng mục cải tạo, phục hồi môi trường; xây dựng, phê duyệt kế hoạch, dự toán và tổ chức thực hiện kế hoạch cải tạo, phục hồi môi trường; nghiệm thu và công bố hoàn thành giai đoạn cải tạo, phục hồi môi trường.
    Chúng ta có thể thấy mỗi giai đoạn có nội dung khác nhau và trách nhiệm của các chủ thể cũng khác nhau. Trong giai đoạn chuẩn bị ứng phó sự cố chất thải và giai đoạn tổ chức ứng phó sự cố chất thải, Ủy ban quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn và Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn các cấp là cơ quan chủ trì, chỉ đạo thực hiện với sự tham mưu, tham gia của các cơ quan quản lý, chuyên môn về bảo vệ môi trường. Trong giai đoạn cải tạo, phục hồi môi trường sau sự cố, cơ quan quản lý, chuyên môn về bảo vệ môi trường các cấp là cơ quan chủ trì, chỉ đạo tổ chức thực hiện.
    Một vấn đề quan trọng là kinh phí, không có kinh phí thì sẽ không thể ứng phó sự cố chất thải, vậy vấn đề này được quy định như thế nào, thưa ông?
    Ông Phan Tuấn Hùng: Điều này là hoàn toàn chính xác, nói đến ứng phó sự cố môi trường hay sự cố chất thải thì vấn đề kinh phí thực hiện là rất quan trọng, quyết định thành công, hiệu quả của công tác ứng phó. Thực tế thời gian qua cho thấy vấn đề kinh phí đang là nút thắt cần phải tháo gỡ, đa số các sự cố đã xảy ra không thể bố trí kinh phí kịp thời nên việc ứng phó sự cố rất khó khăn.
    Về nguyên tắc, ai gây ra sự cố chất thải thì phải có trách nhiệm chi trả cho chi phí tổ chức ứng phó, cải tạo và phục hồi môi trường, bao gồm cả các trách nhiệm khác như bồi thường thiệt hại, hành chính, hình sự theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trường hợp tổ chức, cá nhân gây ra sự cố không có khả năng chi trả, chi trả không đủ, không kịp thời hoặc trong trường hợp chưa xác định được chủ thể gây ra sự cố thì nhà nước có trách nhiệm đứng ra tổ chức ứng phó sự cố để bảo vệ lợi ích chung, lợi ích của cộng đồng. Theo Quy chế, trường hợp này thì nguồn kinh phí được xác định là từ nguồn kinh phí dự phòng, nguồn sự nghiệp môi trường và các nguồn khác theo quy định pháp luật. Sau đó tổ chức, cá nhân gây ra sự cố có trách nhiệm bồi hoàn các chi phí liên quan đến tổ chức ứng phó sự cố chất thải và cải tạo, phục hồi môi trường sau sự cố cho nhà nước.
    Một điểm cần lưu ý là việc thanh quyết toán cho nội dung chi của giai đoạn tổ chức ứng phó sự cố chất thải được thực hiện dựa vào chi phí thực tế, còn nội dung chi của giai đoạn cải tạo, phục hồi môi trường sẽ dựa trên dự toán được phê duyệt. Để quy định rõ nội dung này, Quy chế đã có quy định giao Bộ Tài chính hướng dẫn định mức chi tiết về vấn đề này.
    Một vấn đề được quan tâm là cung cấp thông tin về sự cố chất thải và sự tham gia cộng đồng, xin ông cho biết vấn đề này, thưa ông?
    Ông Phan Tuấn Hùng: Thông tin và cung cấp thông tin là một vấn đề rất quan trọng trong ứng phó sự cố môi trường và sự cố chất thải nói riêng. Nếu thực hiện cung cấp thông tin tốt, hiệu quả sẽ giúp cho công tác ứng phó sự cố được tốt, hiệu quả và nếu không thực hiện tốt công tác này thì sẽ có các tác động tiêu cực. Thực tiễn ứng phó các sự cố xảy ra thời gian qua cho thấy việc cung cấp thông tin chưa được thực hiện tốt, chưa có quy định rõ về vấn đề này và đặc biệt là chưa xác định rõ đầu mối phát ngôn và cung cấp thông tin. Do vậy, một số trường hợp bị các đối tượng xấu lợi dụng đưa thông tin sai sự thật, kích động gây tâm lý hoang mang, bất ổn không đáng có trong xã hội.
    Chính vì vậy, Quy chế đã quy định người có thẩm quyền chỉ đạo tổ chức ứng phó sự cố chất thải phải chỉ định người phát ngôn về ứng phó sự cố. Người phát ngôn trách nhiệm cung cấp thông tin chính thức về sự cố chất thải cho cộng đồng, cơ quan truyền thông. Quy chế cũng quy định cụ thể thời gian, hình thức cung cấp thông tin về sự cố chất thải dễ tiếp cận, trung thực và chính xác nhất.
    Một nội dung quan trọng của Quy chế này là quy định sự tham gia của cộng đồng trong các giai đoạn ứng phó sự cố chất thải, từ diễn tập ứng phó sự cố môi trường, tham gia ứng phó sự cố và giám sát việc cải tạo, phục hồi môi trường sau sự cố chất thải. Quy chế đã quy định cộng đồng dân cư có quyền được tiếp cận, được cung cấp các thông tin về ứng phó sự cố chất thải; các cơ quan truyền thông được cung cấp thông tin về sự cố và có trách nhiệm đưa tin chính xác, trung thực về sự cố chất thải và ứng phó sự cố chất thải.
    Xin cảm ơn ông.
    Phân loại sự cố chất thải và Trách nhiệm ứng phó sự cố chất thải
     
  • 32 khu công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải

    32 khu công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải
    Lợi ích từ các khu công nghiệp (KCN) là không thể chối cãi khi nó kích thích kinh tế vùng, tăng GDP, giải quyết việc làm... Tuy nhiên, mặt trái của nó là nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên nếu như không có một hệ thống xử lý nước thải hoàn thiện.
    Chỉ tập trung vào thu hút đầu tư
    Với đặc trưng sử dụng nhiều hóa chất độc hại trong quá trình sản xuất ra sản phẩm trong các KCN thì yêu cầu về xử lý nguồn nước thải phải đặc biệt cẩn trọng. Theo các nghiên cứu tác động môi trường của Tổng cục Môi trường, các ngành như công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy… các chỉ số sinh học của nước thải thường vượt nhiều lần ngưỡng cho phép, có thể gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng nếu không được xử lý đúng cách.
    Ngoài ra, với từng ngành sản xuất khác nhau, các hóa chất độc hại trong nước cũng khác nhau, do đó, yêu cầu KCN phải có hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung trước khi xả ra môi trường là bắt buộc.
    Đại đa số các KCN được xây dựng trên các tuyến sông lớn, vừa thuận tiện cho việc lấy và xả nước. Nhưng điều này cũng đồng nghĩa với tăng khả năng gây ô nhiễm diện rộng nếu nước thải từ các KCN không được xử lý mà xả thẳng ra môi trường.
    Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), đến đầu năm 2020, trong số 274 KCN đang hoạt động, đã có 242 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung, chiếm 89%. Tức là còn 32 KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung.
    Hệ quả, hàng loạt con sông bị KCN “bức tử” được người dân liên tục phản ánh. Vụ việc Công ty Cổ phần bột giặt LIX gây ô nhiễm kênh Suối Chợ (thị xã Tân Uyên, Bình Dương) gần đây là một ví dụ.
    Báo cáo của Bộ TN&MT không nêu rõ đã xử phạt các KCN này như thế nào. Nhưng báo cáo lại cho biết tình trạng các KCN đã đi vào hoạt động nhưng chưa hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung, chưa xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường ngày càng cao.
    Bộ TN&MT nhận định, nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do một số địa phương chỉ tập trung thu hút đầu tư, song thiếu đôn đốc, kiểm tra, tăng cường chỉ đạo các chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN đẩy nhanh tiến độ xây dựng cũng như đưa vào vận hành kịp thời hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN. Chưa giám sát chặt chẽ việc xả nước thải của các KCN gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, đặc biệt là nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt phía ngoài hàng rào KCN.
    Ngịch lý nhà máy nước thải dư thừa công suất
    Cũng theo báo cáo từ Bộ TN&MT, có 191/244 KCN có trạm quan trắc tự động, chiếm 78,3%. Có 276 cụm công nghiệp có báo cáo đánh giá tác động môi trường, 160 cụm công nghiệp có hệ thống tách nước mưa và nước thải, 109 cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung, 10 cụm công nghiệp có hệ thống quan trắc tự động nước thải.
    Tổng công suất của các nhà máy xử lý nước thải đang hoạt động đạt hơn 951.330m3/ngày - đêm, với công suất trung bình mỗi nhà máy đang hoạt động đạt 4.000m3/ngày - đêm, trong đó, công suất nhỏ nhất là 200m3/ngày - đêm (tại KCN Cơ khí ô tô TPHCM) và lớn nhất là 50.000m3/ngày đêm (tại KCN Yên Bình, tỉnh Thái Nguyên).
    Tuy nhiên, tổng lượng nước thải thực tế của các KCN trên cả nước là 635.000m3/ngày - đêm còn lượng nước thải được thu gom, xử lý tại các hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi xả ra môi trường là 450.000m3/ngày đêm, tức là mới xử lý được 71% lượng nước thải phát sinh.
    Như vậy, không phải là công suất các nhà máy xử lý nước thải tại các KCN không đáp ứng được nhu cầu, mà trái lại, công tác thu gom nước thải để xử lý không đủ để các nhà máy này hoạt động hết công suất.
    Hệ quả, hiệu suất sử dụng của các hệ thống xử lý nước thải tập trung trên toàn quốc là 48%.
    Trong đó, các KCN tại khu vực Đông Nam bộ có tỷ lệ phát sinh nước thải cao nhất nước (chiếm 50%). Một số địa phương như TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, là những địa phương đi đầu với 100% KCN có lắp đặt thiết bị quan trắc tự động và truyền dữ liệu về Sở TN&MT kiểm soát.
    Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Đức Khiển, chuyên gia về kinh tế môi trường, vùng Đông Nam bộ với toàn bộ các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nơi tập trung các KCN lớn nhưng số lượng KCN có hệ thống xử lý nước thải vẫn đang ở mức trung bình (50 - 60%), hơn nữa, 50% trong số đó vẫn chưa hoạt động hiệu quả.
    Thực tế, đến nay bộ hệ thống quy chuẩn kỹ thuật về quản lý nước thải vẫn chưa hoàn thiện và đang chạy theo thực tế. Điều này phát sinh nhiều khó khăn khi các doanh nghiệp lựa chọn công nghệ xử lý nước thải cũng như chính quyền xử lý sai phạm.
     
  • 7 trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

    7 trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
    Chính phủ vừa ban hành Nghị định 53/2020/NĐ-CP quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, trong đó có những điểm mới về đối tượng chịu phí cũng như mức phí…, các trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.    
    Ảnh minh họa
    Nghị định 53/2020/NĐ-CP nêu rõ: Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trườngnước thải công nghiệp thải vào nguồn tiếp nhận nước thải theo quy định pháp luật và nước thải sinh hoạt, trừ trường hợp miễn thu phí theo quy định.
    Trong đó, nước thải công nghiệpnước thải từ các nhà máy, địa điểm, cơ sở sản xuất, chế biến (sau đây gọi chung là cơ sở) của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, bao gồm: Cơ sở sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, thực phẩm, rượu, bia, nước giải khát, thuốc lá; cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô trang trại theo quy định pháp luật về chăn nuôi; cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm; cơ sở nuôi trồng thủy sản thuộc diện phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc kế hoạch bảo vệ môi trường theo quy định; nhà máy cấp nước sạch, nhà máy điện; hệ thống xử lý nước thải tập trung tại khu đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, cảng cá, khu công nghệ cao và các khu khác…
    Nước thải sinh hoạt là nước thải từ hoạt động của: Hộ gia đình, cá nhân; cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức khác; cơ sở rửa ô tô, rửa xe máy, sửa chữa ô tô, sửa chữa xe máy; cơ sở khám, chữa bệnh; nhà hàng, khách sạn; cơ sở đào tạo, nghiên cứu; cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác.
    Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thải nước thải quy định trên là người nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Trường hợp các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thải nước thải vào hệ thống xử lý nước thải tập trung và trả tiền dịch vụ xử lý nước thải cho đơn vị quản lý, vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung theo cơ chế giá dịch vụ thì đơn vị quản lý, vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung là người nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo quy định.
    Nghị định cũng quy định 7 trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải gồm: 
    1- Nước xả ra từ các nhà máy thủy điện.
    2- Nước biển dùng vào sản xuất muối xả ra.
    3- Nước thải sinh hoạt của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở các xã; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở các phường, thị trấn chưa có hệ thống cấp nước sạch; hộ gia đình, cá nhân không kinh doanh ở các phường, thị trấn đã có hệ thống cấp nước sạch tự khai thác nước sử dụng.
    4- Nước làm mát (theo quy định pháp luật về bảo vệ môi trường) không trực tiếp tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm, có đường thoát riêng.
    5- Nước thải từ nước mưa tự nhiên chảy tràn.
    6- Nước thải từ các phương tiện đánh bắt thủy sản của ngư dân.
    7- Nước thải của các hệ thống xử lý nước thải tập trung khu đô thị (theo quy định tại Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06/8/2014 của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải) đã xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường theo quy định trước khi thải vào nguồn tiếp nhận.
    Về mức phí, Nghị định nêu rõ: Mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt là 10% trên giá bán của 1m3 nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trường hợp cần áp dụng mức phí cao hơn, Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định mức phí cụ thể cao hơn đối với từng đối tượng chịu phí.
    Về mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp, Nghị định quy định: Cơ sở có tổng lượng nước thải trung bình trong năm dưới 20 m3/ngày (24 giờ) áp dụng phí cố định tính theo khối lượng nước thải (không áp dụng mức phí biến đổi) như sau: Năm 2020, áp dụng mức phí 1.500.000 đồng/năm.
    Nghị định 53/2020/NĐ-CP quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2020.
     
  • TP.HCM: Kiến nghị điều chỉnh Quy hoạch xây dựng các nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt đô thị

    TP.HCM: Kiến nghị điều chỉnh Quy hoạch xây dựng các nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt đô thị
    UBND TP.HCM vừa có có Tờ trình gửi Chính phủ về thẩm định, phê duyệt điều chỉnh cục bộ Quy hoạch xây dựng các nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt đô thị trên địa bàn thành phố. Theo đó, TP.HCM kiến nghị được gom 3 nhà máy xử lý nước thải thuộc lưu vực Tây Sài Gòn, lưu vực Tân Hóa - Lò Gốm và lưu vực Bình Tân về 1 nhà máy đặt tại Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng Hòa (khu xử lý sinh học hiện hữu).

    Theo quy hoạch thu gom nước thải, lưu vực Tây Sài Gòn gồm một phần của các quận Gò Vấp, 12, Tân Bình và Tân Phú. Lưu vực Tân Hóa-Lò Gốm gồm các quận 6, 8, 11, Tân Bình và huyện Bình Chánh; lưu vực này tiếp giáp các ranh lưu vực thoát nước thải Tàu Hủ - Bến Nghé - Đôi - Tẻ và Nhiêu Lộc - Thị Nghè ở phía Đông, ranh lưu vực Tây Sài Gòn và Bình Tân ở phía Tây là kênh Tàu Hủ, sông Chợ Đệm phía Nam. Còn lưu vực Bình Tân gồm phần lớn quận Bình Tân và một phần quận Tân Phú, phía Tây giáp với đường Vành đai 2 (Quốc lộ 1A) và phía Nam giáp với đường Kinh Dương Vương. Phạm vi khu vực nghiên cứu gồm 53 phường thuộc 9 quận - huyện: 6, 8, 11, 12, Tân Bình, Tân Phú, Gò Vấp, Bình Tân, Bình Chánh với diện tích 91,5km.
    Một góc Nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt đô thị Bình Hưng (huyện Bình Chánh, TP.HCM)
    UBND TP.HCM cho rằng, việc điều chỉnh cục bộ quy hoạch sẽ đem lại nhiều hiệu quả to lớn. Cụ thể, nhà máy xử lý nước thải được xây dựng trên diện tích đất hiện có nên không phải bồi thường giải phóng mặt bằng, có thể triển khai xây dựng một cách nhanh chóng, kịp thời và hầu như không có tác động xấu ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. Trong đó, việc xây dựng 1 nhà máy thay vì 3 nhà máy như quy hoạch cũ có thể tiết kiệm được 88ha đất: lưu vực Tây Sài Gòn (11ha) và lưu vực Tân Hóa Lò Gốm (77ha).
    Bên cạnh đó, việc tập trung nước thải về 1 nhà máy xử lý sẽ dễ dàng áp dụng các công nghệ hiện đại hơn về xử lý nước thải, xử lý mùi triệt để... và đảm bảo được hiệu quả về mặt kinh tế, kỹ thuật và môi trường. Ngoài ra, chi phí xây dựng và vận hành đối với 1 nhà máy xử lý sẽ thấp hơn việc xây dựng và vận hành 3 nhà máy xử lý nước thải ở 3 lưu vực. Việc quản lý và quan trắc chất lượng nước đầu ra cũng đơn giản hơn do chỉ phải kiểm soát 1 khu vực xả thải.
    Cũng theo UBND TP.HCM, việc thu gom 3 nhà máy thành 1 nhà máy đặt tại khuôn viên Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng Hòa hiện hữu sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà máy xử lý cho cả 3 lưu vực thay vì phải thực hiện thêm các công tác kêu gọi đầu tư, lập nghiên cứu khả thi và các thủ tục về đầu tư xây dựng tại cả 3 lưu vực.
     
  • Một phòng thí nghiệm TNMT ở Nghệ An đạt tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2017

    Một phòng thí nghiệm TNMT ở Nghệ An đạt tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2017
    Phòng thí nghiệm thuộc Trung tâm Quan trắc TN&MT Nghệ An vừa được Văn phòng Công nhận Chất lượng (Bộ Khoa học và Công nghệ) công nhận phù hợp theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2017.

    Theo đó, Phòng Thí nghiệm thuộc Trung tâm Quan trắc TN&MT Nghệ An được công nhận phù hợp theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2017 với 68 thông số trên các thành phần môi trường không khí xung quanh, khí thải, nước mặt, nước sinh hoạt, nước uống, nước biển, nước ngầm, nước thải, đất, bùn, trầm tích.
    Đây là nỗ lực của Trung tâm sau 8 năm áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo ISO/IEC 17025:2005 và gần một năm áp dụng ISO/IEC 17025:2017 đối với hoạt động thử nghiệm.
    Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Nghệ An được đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đai
    Từ 09 thông số được công nhận ban đầu (năm 2012) cho thành phần môi trường nước, đến nay Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường đã áp dụng và được công nhận ISO/IEC 17025:2017 với 68 thông số và các thành phần môi trường không khí xung quanh, khí thải, nước mặt, nước sinh hoạt, nước uống, nước biển, nước ngầm, nước thải, đất, bùn, trầm tích.
    Với việc được công nhận là phòng thí nghiệm phù hợp Tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2017 với nhiều thông số và thành phần môi trường đã tiếp tục khẳng định năng lực chuyên môn của phòng Thí nghiệm nói riêng và năng lực của Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Nghệ An nói chung ngày càng được nâng cao, đáp ứng với tình hình mới trong quá trình hội nhập Quốc tế.
    Ông Lê Văn Hưng – Giám đốc Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Nghệ An cho biết, nhận thức rõ được tầm quan trọng của TCVN ISO/IEC 17025:2017, xác định đây vừa là thuận lợi, vừa là thách thức không nhỏ đòi hỏi nhiều nguồn lực để tiếp tục duy trì, xây dựng và áp dụng đầy đủ, có hiệu quả ISO/IEC 17025:2017.
    Thực hiện lấy mẫu quan trắc nước trên sông Vinh
    Trong thơi gian tới, lãnh đạo Trung tâm tiếp tục yêu cầu toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong Trung tâm, đặc biệt là đối với Phòng Thí nghiệm phải thực hiện tốt việc áp dụng Tiêu chuẩn này trong hoạt động chuyên môn. Đồng thời, tiếp tục bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ chuyên môn để đáp ứng với tình hình mới, góp phần xây dựng Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Nghệ An trở thành một trong những đầu tàu về lĩnh vực quan trắc Môi trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An và khu vực.
     
  • TPHCM kiến nghị gom 3 nhà máy xử lý nước thải

    TPHCM kiến nghị gom 3 nhà máy xử lý nước thải
    UBND TPHCM vừa trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt Đồ án Điều chỉnh cục bộ quy hoạch xây dựng các nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt đô thị trên địa bàn TP.
    Hồ xử lý của Nhà máy Xử lý nước thải sinh hoạt Bình Hưng Hòa. Ảnh: CAO THĂNG
    Theo đó, đồ án điều chỉnh quy hoạch tại các lưu vực Tây Sài Gòn, Tân Hóa - Lò Gốm và Bình Tân theo hướng gom 3 nhà máy xử lý nước thải về 1 nhà máy, đặt tại nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng Hòa (khu xử lý sinh học hiện hữu). Phạm vi khu vực nghiên cứu bao gồm 53 phường thuộc 9 quận huyện: 6, 8, 11, 12, Tân Bình, Tân Phú, Gò Vấp, Bình Tân, Bình Chánh với diện tích 91,5km².
    Việc điều chỉnh này sẽ đem lại nhiều hiệu quả to lớn về kinh tế - xã hội cho TP nói chung cũng như khu vực dự án nói riêng. Cụ thể, nhà máy xử lý nước thải được xây dựng trên diện tích đất hiện có nên không phải bồi thường giải phóng mặt bằng, có thể triển khai xây dựng một cách nhanh chóng, kịp thời và hầu như không có tác động xấu ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. Diện tích xây dựng nhà máy đảm bảo được khoảng cách ly theo quy định. Bên cạnh đó, việc tập trung nước thải về 1 nhà máy xử lý sẽ dễ dàng áp dụng các công nghệ hiện đại hơn về xử lý nước thải, xử lý mùi triệt để... và đảm bảo được hiệu quả về mặt kinh tế, kỹ thuật và môi trường.
    Theo tính toán sơ bộ, việc gom 3 nhà máy xử lý nước thải thành 1 nhà máy này sẽ giảm được diện tích đất sử dụng cho các lưu vực, bảo đảm an toàn hơn về vệ sinh môi trường và ổn định tâm lý cho người dân, tiết kiệm quỹ đất cho TP. Việc không xây dựng nhà máy xử lý nước thải tại lưu vực Tây Sài Gòn (11ha) và lưu vực Tân Hóa - Lò Gốm (77ha) theo quy hoạch hiện tại sẽ tiết kiệm được khoảng 88ha diện tích đất cho TP.
    Chi phí xây dựng và vận hành đối với 1 nhà máy xử lý sẽ thấp hơn việc xây dựng và vận hành 3 nhà máy xử lý nước thải ở 3 lưu vực. Việc quản lý và quan trắc chất lượng nước đầu ra cũng đơn giản hơn do chỉ phải kiểm soát 1 khu vực xả thải. Việc thu gom 3 nhà máy thành 1 nhà máy cũng sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà máy xử lý cho cả 3 lưu vực, thay vì phải thực hiện thêm các công tác kêu gọi đầu tư, lập nghiên cứu khả thi và các thủ tục về đầu tư xây dựng tại cả 3 lưu vực.
    Ngoài ra, việc xây dựng 1 nhà máy xử lý nước thải tại Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng Hòa hiện có sẽ góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm nước cho hệ thống kênh Nước Đen bằng cách xả một lượng lớn nước thải sau khi xử lý đạt QCVN 14:2008/BTNMT vào kênh. Trong quá trình xây dựng và vận hành nhà máy xử lý sẽ tạo ra nhiều việc làm cho người dân thông qua công tác đầu tư, xây dựng và vận hành.
     
  • 9 Quy trình nội bộ thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực Tài nguyên nước


    Ngày 22/07/2020, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà đã ký Quyết định số 1610/QĐ-BTNMT về việc ban hành Quy trình nội bộ thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT).
     
    Quy trình nội bộ thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước, bao gồm 9 Quy trình:
    (1) Quy trình cấp giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước;
    (2) Quy trình gia hạn, điều chỉnh giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước;
    (3) Quy trình cấp lại giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước;
    (4) Quy trình cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước;
    (5) Quy trình gia hạn, điều chỉnh giấy phép xả nước thải vào nguồn nước;
    (6) Quy trình cấp lại giấy phép xả nước thải vào nguồn nước;
    (7) Quy trình cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất quy mô lớn;
    (8) Quy trình gia hạn giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất quy mô lớn;
    (9) Quy trình điều chỉnh tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.
     
    Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại Thông báo số 33/TB-BTNMT ngày 22/04/2020 về các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, tháo gỡ khó khăn vướng mắc, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng do dịch Covid 19 và thực hiện Chỉ thị số 18/CT-TTg, Cục Quản lý Tài nguyên nước đã chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng Quy trình nội bộ thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước thuộc thẩm quyền của Bộ TN&MT với mục tiêu đảm bảo nguyên tắc khoa học, hiệu quả, rút ngắn thời gian thực hiện theo tinh thần: Rõ việc, rõ người, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả.
     
    Theo đó, so với quy định tại Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ, tổng thời gian của các Quy trình nội bộ đã giảm từ 45 ngày theo quy định xuống còn 40 ngày đối với quy trình cấp mới giấy phép; giảm từ 35 ngày theo quy định xuống còn 33 ngày đối với Quy trình điều chỉnh, gia hạn giấy phép và giảm từ 20 ngày theo quy định xuống còn 17 ngày đối với quy trình cấp lại giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước.
     
    Đối với hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất: Hồ sơ cấp mới tối đa 21 ngày làm việc; gia hạn, điều chỉnh tối đa 16 ngày làm việc.
     
    Đối với hồ sơ điều chỉnh tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước: Thời hạn tối đa 17 ngày làm việc.

Sản phẩm


  • Hệ thống quan trắc nước thải tự động liên tục

    Hệ thống quan trắc nước thải tự động liên tục là một hệ thống gồm các thiết bị đáp ứng yêu cầu kỹ thuật được quy định chi tiết tại Thông tư 24/2017/TT-BTNMT nhằm thực hiện theo dõi tình trạng và chất lượng nguồn thải nước thải một cách liên tục, tự động giúp chủ nguồn thải, cơ quan quản lý nhà nước giám sát chặt chẽ việc xả nước thải tại mọi thời điểm và có các biện pháp giải quyết, ứng cứu kịp thời khi xảy ra sự cố (nếu có).

    1. Một hệ thống quan trắc nước thải tự động liên tục bao gồm các thiết bị cơ bản như:

    • Cảm biến đo các chỉ tiêu (sensors): phụ thuộc vào tính chất nguồn xả thải mà có các sensor đo tương ứng như: lưu lượng vào ra,  COD, BOD, TSS, độ màu, pH, nhiệt độ, Tổng Nito (TN), Tổng phốt pho (TP), PO4, NH3, tổng dầu mỡ khoáng, các kim loại,…
    • Thiết bị lưu trữ, truyền nhận dữ liệu (Datalogger): Mục đích lưu trữ và hiển thị dữ liệu tại trạm, đồng thời truyền dữ liệu theo đúng định dạng chuẩn được quy định tại Thông tư 24/2017/TT-BTNMT về Sở Tài nguyên Môi trường địa phương.
    • Hệ thống lấy mẫu nước tự động: nhằm giúp cơ quan quản lý có thể lấy mẫu tự động hoặc thủ công từ xa thông qua các thiết bị có kết nối internet mọi lúc mọi nơi khi có bất kỳ thông số nào vượt ngưỡng.
    • Các thiết bị phụ trợ như: hệ thống làm sạch bằng khí nén, tủ hệ thống chứa các module hiển thị và cấp nguồn cho hệ thống, camera giám sát nguồn thải, các thiết bị phụ trợ khác.

    2. Sơ đồ nguyên lý hệ thống quan trắc nước thải tự động liên tục

    Sơ đồ nguyên lý hệ thống quan trắc nước thải tự động liên tục
    Chú thích:
    1. Bộ đo lưu lượng kênh hở
    2. Bơm nước
    3. Bể chảy tràn
    4. Các sensor đo
    5. Dataloger: quản lý hệ thống
    6. Thiết bị truyền tín hiệu
    7. Thiết bị nhận tín hiệu
    8. PC: tại trung tâm quản lý hệ thống từ xa.
    9. UPS: cấp nguồn duy trì hoạt động hệ thống
    10.  Hệ thống làm sạch tự động
    11. Thiết bị lấy mẫu nước tự động

    3. Các sensor đo trong nhà trạm quan trắc nước thải tự động online

    Theo Điều 25 Mục 6 về Quan trắc nước thải của Thông tư 24/2017/TT-BTNMT quy định: Căn cứ vào mục tiêu quan trắc, các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường hiện hành và yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xác định các thông số cần quan trắc. 
    Như vậy các thông số cần quan trắc trong hệ thống quan trắc tự động được quy định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cụ thể là Sở tài nguyên, Trung tâm quan trắc của các địa phương. Đồng thời các thông số cần quan trắc cũng phụ thuộc vào tính chất nguồn xả thải ví dụ như nước thải nhà máy thực phẩm, nhà máy dệt nhuộm có các thông số quan trắc khác nhau.
    Tuy nhiên, cơ bản các thông số quan trắc của một trạm quan trắc nước thải online cần có bao gồm các thông số như Nhiệt độ, pH, COD, TSS, Lưu lượng thải đầu vào và đầu ra, ngoài ra còn có các thông số khác theo tính chất nguồn thải.
    Thông số kỹ thuật các chỉ tiêu đo
    a. Sensor đo pH/Nhiệt độ (tích hợp)
    - Dải đo: 0 – 14 pH
    - Độ chính xác: ± 0.1 pH
    - Cấp bảo vệ: IP 68
    - Nhiệt độ: 0 - 80 oC
    - Chiều dài cáp tiêu chuẩn: 6m
    b. Sensor đo COD/TSS
    - Phương pháp đo: công nghệ đo UV
    - Dải bước sóng: 200 – 800 nm
    - Dải đo COD: 0 – 500 mg/l hoặc tùy chọn dải đo theo yêu cầu
    - Dải đo TSS: 0 – 300 mg/l hoặc tùy chọn dải đo theo yêu cầu
    - Chu kỳ đo: tối thiểu 60s, có thể cài đặt
    - Nhiệt độ: -5 tới 60oC
    - Cấp bảo vệ: IP68
    - Tự động làm sạch bằng khí nén
    c. Tổng nito
    - Phương pháp đo: Quang phổ
    - Dải đo: 0 – 200 mg/l (có thể tùy chọn dải đo khác)
    - Thời gian đo: tùy chọn thời gian đo hoặc thủ công
    - Nhiệt độ làm việc: 5 tới 50 oC
    - Đầu ra: 4-20mA
    - Nguồn cấp: 220V, 50Hz
    d. Tổng phốt pho
    - Phương pháp đo: quang phổ
    - Dải đo: 0 – 30 mg/l (có thể tùy chọn dải đo khác)
    - Thời gian đo: tùy chọn thời gian đo hoặc thủ công
    - Nhiệt độ làm việc: 5 tới 50oC
    - Đầu ra: 4-20 mA
    Nguồn cấp: 220V, 50Hz.
     
    e. Đo các kim loại nặng như Cr, Zn, As, Cu, Ni, Fe, Mn, Pb….
    - Phương pháp đo: Quang phổ
    - Dải đo: có thể tùy chọn đáp ứng theo thông tư 24/2017/TT-BTNMT
    - Nhiệt độ làm việc: 5 tới 50oC
    - Đầu ra: 4-20mA
    - Nguồn cấp: 220V, 50Hz
     
    *Ngoài ra còn một số các chỉ tiêu khác theo QCVN 40/2011/ BTNMT, VITES sẽ gửi báo giá theo yêu cầu của khách hàng.

    4.  Đo lưu lượng kênh hở dùng máng Parshall

    - Công nghệ đo siêu âm không tiếp xúc
    - Dải đo: 0 – 5 m/s
    - Độ chính xác: ± 1%
    - Đầu ra: 4-20mA hoặc RS485
    - Nhiệt độ hoạt động: -22 tới 60oC
    - Cấp bảo vệ: IP68
    - Nguồn cấp 24VDC
    * Ngoài việc sử dụng sensor đo bằng sóng siêu âm trong máng Parshall để đo lưu lượng nước thải, trong thực tế, tùy từng điều kiện mà có thể sử dụng phương án đo lưu lượng trong ống kín bằng công nghệ điện từ với độ chính xác cao hơn, giá thành rẻ hơn và thời gian thi công nhanh hơn so với dùng máng Parshall.

    5. Thiết bị lấy mẫu nước tự động

    Thiết bị lấy mẫu nước tự động theo nguyên lý hút mẫu chân không với khả năng kiểm soát ổn nhiệt.
    Chức năng: khi một trong các chỉ tiêu phân tích nào đó vượt mức giới hạn đã cài đặt trước thì thiết bị tự động lấy mẫu, lưu mẫu, bảo quản lạnh và ghi nhận thời gian lấy mẫu lấy mẫu
    • Số lượng mẫu lấy: 12 chai, 2,9 lit/chai
    • Nhiệt độ bảo quản: +4oC
    • Sensor nhiệt độ: Pt100
    • Chiều cao hút mẫu 7,5m
    • Thể tích lấy mẫu: 20-350ml
    • Đầu vào: 0/ 4-20mA
    • Khả năng kết nối với máy tính để lấy dữ liệu lấy mẫu

    6. Phần mềm quản lý và truyền dữ liệu

    - Kết nối tới các sensor/analyzer/transmitter để hiển thị các giá trị đo lường.
    - Phần mềm có chức năng ghi lại dữ liệu quan trắc, trạng thái trạm, tình trạng vượt ngưỡng các thông số đo.
    - Phần mềm cho phép quan sát nhanh xu hướng thay đổi của các thông số đo thông qua đồ thị.
    - Dữ liệu được lưu giữ đồng thời tại cơ sở dữ liệu và hai dạng file text (*.txt) (theo qui định) và file *.csv, truyền file *.txt đến các FTP server theo nhịp thời gian khai báo.
    - Tên và cấu trúc file *.txt tuân theo qui định hiện hành của nhà nước Việt Nam. Cho phép xuất báo cáo theo nhiều định dạng thông dụng.
    - Tích hợp phần mềm WebServer phục vụ các chức năng tra cứu nhanh số liệu đo và điều khiển thủ công thiết bị lấy mẫu. Cho phép người dùng có thể truy cập tới Datalogger tại trạm bằng địa chỉ IP tĩnh của trạm quan trắc từ máy tính hoặc điện thoại, máy tính bảng có kết nối Internet.
     
  • Hệ thống xử lý nước thải

    Nước thải sinh hoạt là loại nước thải phát sinh từ các khu nhà bếp, khu nhà ăn, tắm giặt, vệ sinh… các nguồn nước thải này tập trung nhiều ở các khu căn hộ, cơ quan, khu chung cư, trường học, bệnh viện, các công trình công cộng... Chính vì vậy việc xây dựng một hệ thống XLNT và nghiêm cứu các phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt cho phù hợp với đặc tính của từng khu dân cư là điều hết sức cần thiết.

    Từ đặc điểm của từng khu dân cư và thành phần của nước thải, chúng ta có các phương pháp xử lý cơ bản như sau:
    Phương pháp xử lý cơ học:
    Xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học là phương pháp xử lý nhằm loại bỏ các loại tạp chất không hòa tan trong nước thải và thường được xử lý bằng các loại song chắn rác, các bể lọc, bể lắng các loại. Song chắn rác sẽ có nhiệm vụ giữ lại các loại rác hữu cơ không tan và có kích thước lớn nhằm hạn chế việc tắc đường ống dẫn nước thải. Bể lắng cát là nơi làm nhiệm vụ loại bỏ các chất vô cơ trong hệ thống XLNT. ở đây chất vô cơ chủ yếu là cát.
    Phương pháp xử lý sinh học:
    Đây là phương pháp xử lý dựa vào khả năng ô xy hóa các liên kết hữu cơ dạng không tan và hòa tan của các loại vi sinh vật. Để thuận tiện trong công tác xử lý nước thải, chúng ta thường xây dựng các công trình xử ý sinh học trong điều kiện nhân tạo. các công trình này bao gồm Bể lọc sinh học các loại, bùn hoạt tính, Hồ sinh học thổi khí, mương oxy hóa.

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT
    THUYẾT MINH:  QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI

    Các quy trình xử lý chính trong Trạm 
    xu ly nuoc thai bao gồm các bước sau đây:
    1.      Bước 1: Điều hoà lưu lượng và ổn định nồng độ pH ở giá trị thích hợp tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình xử lý vi sinh tiếp theo.
    2.      Bước 2:  Xử lý BOD, COD bằng phương pháp oxy hoá sinh học, các vi sinh vật sử dụng các chất hữu cơ trong nước thải làm nguồn thức ăn (đồng thời với quá trình tiêu thụ oxy không khí và nito, photpho).
    3.      Bước 3: Loại bỏ các chất lơ lửng, các chất ô nhiễm còn lại trong nước thải bằng biện pháp cơ học. 
    4.      Bước 4: Tiêu diệt các vi khuẩn có hại bằng phương pháp khử trùng, điều chỉnh pH

    Công nghệ xử lý áp dụng trong hệ thống:
    Xử lý sinh học: là sự kết hợp của 2 quá trình cơ bản:
    + Xử lý thiếu khí: nồng độ ô xy gần như bằng 0 như yếm khí nhưng có mặt NO3-
         HC + NO3+ vi khuẩn dị dưỡng → CO2 + N2 + H2O + sinh khối mới
    + Xử lý hiếu khí:
          HC (chất hữu cơ) + O2 + vi khuẩn dị dưỡng hiếu khí → CO+ H2O + sinh khối mới
         Như vậy trong quá trình này, hệ vi sinh xử lý được các chất hữu cơ. Nếu phản ứng kéo dài ở điều kiện hiếu khí, khi HC còn rất ít ta sẽ thực hiện được quá trình nitrat hóa:
         NH3 + O2 + vi khuẩn tự dưỡng hiếu khí → NO3- + H2O + sinh khối mới
         Trong quá trình này, hệ vi sinh xử lý được các hợp chất hữu cơ chứa N và NH3, biến N thành NO3-
    Việc đưa thêm giá thể vi sinh nhằm phát huy cao nhất khả năng tham gia của các loài vi sinh vật lơ lửng và VSV bám dính, đồng thời làm ổn định mật độ vi sinh và tăng hiệu suất xử lý.

    Nguyên lý hoạt động:
    Với đặc trưng của nước thải sinh hoạt chứa chủ yếu là hợp chất hữu cơ dễ phân huỷ sinh học; thành phần bã thải lớn; thành phần dinh dưỡng N, P cao; các chất kiềm hãm quá trình phát triển của vi sinh vật thấp. Dựa trên các yếu tố đó công nghệ được xây dựng tập trung vào các công đoạn xử lý chính đó là: Xử lý hiếu khí bằng bùn hoạt tính và khử trùng.
    Qua đó, quy trình công nghệ đưa ra như hình 1 dựa trên các quá trình cơ bản sau:
    + Quá trình bùn hoạt tính (diễn ra trong Bể Aerotank);
    + Quá trình lắng bùn (diễn ra trong Bể lắng);
    + Quá trình phá huỷ tế bào vi sinh vật gây hại.
    Sau quá trình khử trùng để tiêu diệt lượng vi sinh vậy còn sót lại trong nước bằng hóa chất, nước thải sẽ được dẫn ra hệ thống thoát nước chung của đô thị.

    Để được tư vấn xây dựng một 
    hệ thống xử lý nước thải áp dụng những công nghệ tiên tiến nhất, quý khách vui lòng liên hệ Hotline: 0845566899 - 02463267889 để được tư vấn miễn phí.
    Công ty cổ phần Vites còn hoạt động trong các lĩnh vực sau:
    Lĩnh vực hoạt động khác của 
    Công ty cổ phần Vites

    ·Cung cấp thiết bị, hệ thống, trạm xử lý khí thải

    ·Cung cấp thiết bị, hệ thống, trạm xử lý nước thải 

    ·Cung cấp máy móc, thiết bị quan trắc môi trường tự động

    ·Cung cấp máy móc thiết bị, hóa chất phòng thí nghiệm và xử lí môi trường

    ·Tư vấn môi trường

    ·Nâng cấp sửa chữa hệ thống XLMT