So sánh sản phẩm
chọn tối đa 4 sản phẩm

Sự cần thiết lập Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

Ngày đăng : 10:33:53 02-12-2019

Sự cần thiết lập Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ về nhiệm vụ, những giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2019; Quyết định số 995/QĐ-TTg ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cho các Bộ tổ chức lập quy hoạch ngành quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao chủ trì tổ chức thực hiện xây dựng Nhiệm vụ lập quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Nước ta có 108 lưu vực sông với khoảng 3.450 sông, suối tương đối lớn. Tổng lượng nước mặt trung bình năm khoảng 830-840 tỷ m 3 được tập trung chủ yếu trên 9 lưu vực sông lớn, bao gồm: Hồng - Thái Bình, Bằng Giang - Kỳ Cùng, Mã, Cả, Vu Gia - Thu Bồn, Ba, Đồng Nai và sông Cửu Long. Tuy nhiên, khoảng 63% nguồn nước mặt (tương ứng với 520 tỷ m 3 ) đến từ nước ngoài, chỉ có khoảng 310 tỷ m 3 mỗi năm được sản sinh trên lãnh thổ Việt Nam. Về nước dưới đất, tổng trữ lượng tiềm năng nguồn nước dưới đất khoảng 63 tỷ m3/năm.

Nếu chỉ xét riêng tổng lượng nước hàng năm của cả nước, có thể cho rằng Việt Nam là quốc gia có tài nguyên nước dồi dào. Tuy nhiên, theo chỉ tiêu đánh giá của Hội Tài nguyên nước Quốc tế thì quốc gia nào có lượng nước bình quân đầu người dưới 4.000 m3 /người/năm là quốc gia thiếu nước, như vậy, nếu chỉ tính riêng lượng tài nguyên nước mặt sản sinh trên lãnh thổ thì ở thời điểm hiện nay, Việt Nam đã thuộc số các quốc gia thiếu nước và sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn, thách thức về tài nguyên nước trong tương lai gần. Xét theo đặc điểm phân bố lượng nước theo thời gian, không gian cùng với đặc điểm phân bố dân cư, phát triển kinh tế, mức độ khai thác, sử dụng nước có thể thấy rằng tài nguyên nước của Việt Nam đang phải chịu rất nhiều sức ép, tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong việc bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia.

Hiện nay, trên toàn quốc, tổng lượng nước khai thác, sử dụng của các ngành kinh tế hàng năm khoảng 101 tỷ m3 , chiếm khoảng 12% tổng lượng nước hiện có của cả nước và khoảng 33% lượng nước nội sinh. Trong đó, trên 86% lượng nước được sử dụng cho mục đích nông nghiệp (khoảng 87 tỷ m3/năm), công nghiệp khoảng 5%, sinh hoạt và du lịch khoảng 4%, thủy sản và các ngành khác khoảng 5%. Khai thác, sử dụng nước cho phát triển kinh tế chủ yếu là nguồn nước mặt, nước dưới đất được khai thác, sử dụng chủ yếu trong cấp nước sinh hoạt và công nghiệp (khoảng 40% lượng nước cấp cho đô thị và khoảng gần 60% lượng nước sử dụng cho sinh hoạt nông thôn).

Khai thác, sử dụng nước lớn nhất cho phát triển nông nghiệp là Vùng đồng bằng sông Hồng và Vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong sinh hoạt, hầu hết các thành phố, thị xã đều có hệ thống cấp nước tập trung, tổng công suất thiết kế các nhà máy nước ở các đô thị đạt khoảng 5,4 triệu m 3 /ngày.đêm, tuy nhiên cũng mới chỉ đáp ứng được khoảng 70% nhu cầu sử dụng nước của các đô thị. Theo dự báo, tổng nhu cầu nước cho đô thị trên cả nước khoảng 8-10 triệu m 3 /ngày.đêm. Ở khu vực nông thôn, có khoảng 62% dân số nông thôn được cấp nước sinh hoạt. Khai thác, sử dụng nước cho phát triển thủy điện tăng mạnh trong 10 năm trở lại đây, hiện nay trên toàn quốc có khoảng 421 hồ thủy điện, với tổng dung tích khoảng 56 tỷ m 3 , tập trung chủ yếu trên lưu vực sông Hồng, sông Đồng Nai và khu vực Tây nguyên. Dự báo tổng công suất thủy điện đến năm 2025 là 33.310MW, phát triển thủy điện góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhưng cũng có rất nhiều vấn đề.

Cũng như nhiều nước trên thế giới, nước ta đã và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức liên quan đến nguồn nước. Tài nguyên nước ở nhiều nơi suy giảm nghiêm trọng; tình trạng lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặt, nước biển dâng, triều cường, sạt, lở bờ sông, biển ngày càng nghiêm trọng...; Sức ép của phát triển kinh tế -xã hội, tăng dân số, đô thị hóa đã và đang làm gia tăng nhu cầu sử dụng nước, phát sinh những mâu thuẫn trong khai thác, sử dụng, tài nguyên nước trên một số lưu vực sông đang đứng trước nguy cơ suy thoái, ô nhiễm.

Biến đổi khí hậu cũng đã và đang tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước. Theo Kịch bản biến đổi khí hậu do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2016, vào năm 2070, với kịch bản nhiệt độ không khí tăng thêm 2,5-4,50C, lượng dòng chảy sông ngòi cũng sẽ thay đổi, chế độ mưa thay đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọng vào mùa mưa, gia tăng hạn hán vào mùa khô, điều này gây khó khăn trong việc cấp nước và gây mâu thuẫn trong khai thác, sử dụng nước của các ngành trong mùa khô. Trên các lưu vực sông lớn như sông Hồng, sông Cửu Long đã và đang có xu hướng giảm nhiều hơn đối với dòng chảy năm và dòng chảy kiệt, và tăng nhiều hơn đối với dòng chảy lũ. Theo kịch bản, nếu lượng mưa giảm 10% thì dòng chảy mùa khô ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (chỉ tính riêng lượng nước phát sinh trong vùng) giảm 4,8% vào năm 2020, 14,5% vào năm 2050 và 33,7% vào năm 2100. Mức độ biến đổi mạnh nhất xảy ra ở Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Dự báo, dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển có thể dâng cao thêm 0,3-1,0 m, khi đó nhiều vùng thấp ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và ven biển Trung Bộ sẽ bị ngập chìm trong nước biển. Nếu nước biển dâng 1 m, diện tích ngập lụt là 40.000 km2 , chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, 1.700km2 vùng đất ngập nước cũng bị đe doạ và khoảng 17 triệu người sẽ chịu hậu quả của ngập lụt.

Hiện nay, tài nguyên nước Việt Nam và công tác quản lý tài nguyên nước đang đứng trước 13 vấn đề lớn sau: (1) Tài nguyên nước mặt phân bổ không đều; (2) Phụ thuộc vào nguồn nước đến từ quốc tế; (3) Thiếu nước trong mùa khô; (4) Khai thác quá mức tài nguyên nước trong mùa khô; (5) Gia tăng nhu cầu sử dụng nước; (6) Mâu thuẫn trong khai thác, sử dụng nước; (7) An ninh nguồn nước đang bị đe dọa; (8) Thiên tai; (9) Biến đổi khí hậu; (10) Cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước; (11) Đa dạng sinh học và hệ sinh thái phụ thuộc nguồn nước; (12) Hiệu suất sử dụng nước thấp; (13) Sụt, lún mặt đất, và sạt, lở bờ sông.

Trong những năm qua, công tác quản lý tài nguyên nước đã và đang đạt được những thành quả đáng khích lệ, Luật Tài nguyên nước, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật và các Thông tư ban hành đã và đang là những công cụ quản lý hiệu quả. Các quy định mới được điều chỉnh, bổ sung trong Luật Tài nguyên nước phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý tài nguyên nước trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới.

Một trong những mục tiêu của Kế hoạch hành động quốc gia nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước (Quyết định số 182/QĐ-TTg ngày 23/01/2014) đó là: “Bảo đảm quản lý, khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo phương thức tổng hợp, toàn diện và hiệu quả cao nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia trước mắt và lâu dài, góp phần phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã hội và quốc phòng, an ninh trước diễn biến của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và sự suy giảm của nguồn nước”. Để đạt được mục tiêu trên, một trong những nhiệm vụ chính của Kế hoạch hành động trên đó là “Xây dựng quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông liên tỉnh”.

Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 được ban hành và có hiệu lực từ 01/01/2019. Theo đó, đã quy định quy hoạch tài nguyên nước thuộc nhóm quy hoạch ngành quốc gia và Nghị định số 37/2019/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2019 hướng dẫn thi hành chi tiết một số điều của Luật Quy hoạch (sau đây gọi tắt là Nghị định số 37/2019/NĐ-CP) cũng đã quy định cụ thể các nội dung quy hoạch chuyên ngành, trong đó có quy hoạch tài nguyên nước.

Triển khai thực hiện Luật Quy hoạch, ngày 09 tháng 8 năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 995/QĐ-TTg giao nhiệm vụ cho các Bộ tổ chức lập quy hoạch ngành quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (sau đây gọi tắt là Quyết định số 995/QĐ-TTg).

Thực hiện các quy định của pháp luật, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nêu trên và các vấn đề cấp bách trong lĩnh vực tài nguyên nước, để có cơ sở triển khai lập quy hoạch đúng trọng tâm, hiệu quả. Bộ Tài nguyên và Môi trường thấy rằng việc xây dựng Nhiệm vụ lập quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 là hết sức quan trọng và cần thiết.

Tags: